Sunday, December 28, 2008

Stimulus skeptic


David Backus, giáo sư kinh tế NYU, vừa gia nhập đội ngũ những người phản đối fiscal stimulus của Greg Mankiw. Backus đưa ra 5 lý do:

- Hard to do: khó có thể tiêu thêm hàng trăm tỷ với hệ thống hành chính hiện tại, càng khó hơn để chi cho những dự án thực sự có ích cho xã hội

- Bad timing: đa số các nhà kinh tế dự báo kinh tế Mỹ sẽ bình ổn trở lại vào nửa sau năm 2009 và phục hồi từ năm 2010, trong khi kế hoạch stimulus nhanh lắm cũng chỉ có thể khởi động vào nửa sau 2009 và thực sự có tác động vào nền kinh tế trong năm 2010, khi mà nền kinh tế không cần stimulus nữa (xem thêm về vấn đề độ trễ của chính sách ở đây).

- Small multiplier: mặc dù sách giáo khoa cho rằng fiscal multiplier xấp xỉ 2, các nhà kinh tế, kể cả những người ủng hộ stimulus như Krugman, cũng chỉ dám tin multiplier xấp xỉ 1, thậm chí còn nhỏ hơn 1. Nếu vậy $700b stimulus trong 2 năm sẽ chỉ tương đương 2.5% GDP mỗi năm, không thấm tháp gì so với mưc độ suy giảm kinh tế (âm 4-5%).

- Long-term budget issues: về lâu dài Mỹ sẽ phải đối mặt với những cuộc khủng hoảng nghiêm trọng hơn liên quan đến quĩ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế. Vung tay quá trán ở thời điểm hiện tại khi chính phủ đang nợ đầm đề sẽ trói tay chính mình trong tương lai khi cần phải giải quyết các vấn đề long-term kia.

- It's the financial system: cuộc khủng hoảng hiện tại của Mỹ giống như Nhật thời thập kỷ 90, đó là khủng hoảng hệ thống tài chính. Do đó điều quan trọng là dọn sạch hệ thống tài chính chứ không phải cứ tiếp tục đổ tiền vào kích cầu. Nhật đã tiêu tốn rất nhiều tiền vào fiscal stimulus nhưng không cứu vãn được tình hình, phải đến khi chính phủ Koizumi giải quyết triệt để vấn đề nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thì Nhật mới thoát ra được cuộc khủng hoảng.

Cá nhân tôi thiên về phía Krugman, không phải vì "thấy người sang bắt quàng làm họ", mà tôi cho rằng nền kinh tế Mỹ hiện vẫn còn ẩn náu rất nhiều rủi ro (ví dụ credit card lending). Bởi vậy fiscal stimulus, dù có thể có nhiều hạn chế như Mankiw và Backus chỉ ra, có tác dụng như một biện pháp preemptive, phòng ngừa những mắt xích yếu nhất bung ra ở những thời điểm không ai ngờ tới. Ngoài ra, nền kinh tế Mỹ như một con bệnh vừa qua khỏi cơn nguy kịch (hi vọng thế) nhưng hệ đề kháng còn rất yếu, một liều kháng sinh phòng ngừa có thể giúp con bệnh này chống chọi với các cú shock bất ngờ mới từ bên ngoài (thiên tai, khủng bố...).

Dù sao đi nữa, cuộc debate giữa hai trường phái này sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách Mỹ, và cả những observers như tôi, vỡ ra rất nhiều điều. Cám ơn môi trường tự do tranh luận của đất nước vốn dĩ bị nhiều người ghét này.


Update (06/01/2009): Willem Buiter và Arnold Kling gia nhập vào hàng ngũ stimulus skeptics. Có điều hai nhà kinh tế này không nghi ngờ nhiều tính hiệu quả mà đặt vấn đề liệu nền kinh tế Mỹ có khả năng support cho một stimulus lớn như Obama đề nghị hay không ($700-1000b).


Saturday, December 27, 2008

Exploitation II


Cách đây hơn chục năm, một thầy giáo của tôi nói rằng chủ nghĩa tư bản đã phát triển lên một mức rất tinh vi. Nếu trước kia các chủ đồn điền phải dùng gậy ba-tong để bóc lột công nhân bản xứ, bây giờ việc bóc lột diễn ra ở tầm mức quốc gia. Ông lấy ví dụ là thời 70-80 Nhật đã mua rất nhiều tài sản ở Mỹ, kể cả trái phiếu chính phủ vì Nhật có thặng dư mậu dịch lớn với Mỹ như TQ bây giờ. Thế rồi năm 1985 Mỹ đã buộc Nhật phải ký vào Plaza Accord để đồng Yen lên giá hơn 50% so với đồng USD. Điều này tương đương với tất cả các khoản đầu tư trước đây của Nhật vào Mỹ bị mất giá hơn một nửa, cũng có nghĩa là Mỹ đã "bóc lột" Nhật một cách trắng trợn bằng cách "quịt" 50% số nợ với Nhật.

Hơn 20 năm sau, TQ đã thế chân Nhật trở thành "chủ nợ" lớn nhất của Mỹ. Có điều những nỗ lực của Mỹ trong suốt giai đoạn 2000-2006 không làm TQ nhượng bộ và đồng Yuan chỉ được thả lỏng một phần và cho lên giá từ từ so với USD 2 năm gần đây. Điều đáng nói là dù đồng yuan đã bắt đầu lên giá, thặng dư mậu dịch của TQ với Mỹ vẫn tiếp tục gia tăng và những số liệu gần đây cho thấy gần như toàn bộ thâm hụt ngân sách của Mỹ đều được tài trợ từ nguồn này. Hiện tại dự trữ ngoại hối của TQ đã vượt gần $2 trillion. Thử tưởng tượng nếu Mỹ thành công trong việc làm USD mất giá khoảng 50% so với đồng yuan như đã làm với Nhật năm 1985, số tiền TQ bị "quịt" sẽ tương đương với 10 năm GDP hiện tại của VN.

Vậy tại sao TQ không chuyển dự trữ ngoại tệ của mình sang các đồng tiền khác hay vàng? Vấn đề là bản thân TQ muốn giữ tỷ giá của đồng yuan với đồng USD cố định vì Mỹ là thị trường quan trọng nhất. Nói theo nhiều nhà kinh tế thì TQ đã "hối lộ" cho dân Mỹ để họ tiếp tục mua hàng của TQ thông qua chính sách tỷ giá. Cái lợi mà TQ được trong ván bài kinh tế này không phải là $2 tr dự trữ ngoại tệ mà TQ biết sẽ mất một phần trong tương lai. Mục tiêu của TQ chính là tăng trưởng kinh tế, đây là điều cần thiết để TQ giữ xã hội ổn định và là phương tiện để đạt được các mục tiêu chính trị khác. Có nghĩa là TQ chấp nhận sẽ bị quịt nợ trong tương lai, hay nói cách khác sẵn sàng để Mỹ "bóc lột".

Không chỉ bị "bóc lột" vì khoản cho vay của mình sẽ mất giá trị khi đồng yuan lên giá, người dân TQ hiện tại còn đang bị bóc lột trên một khía cạnh khác. Họ buộc phải giảm tiêu dùng và tăng tiết kiệm cá nhân vì chính sách quản lý vĩ mô méo mó của chính phủ TQ. Mỗi đô la thêm vào dự trữ ngoại tệ quốc gia của TQ đều có đóng góp của những công nhân TQ làm việc trong các xí nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu. Bên cạnh đó mọi người dân TQ đều phải giảm tiêu dùng các loại hàng hóa nhập khẩu vì chính sách tỷ giá thấp của chính phủ. Họ đang bị "bóc lột" gián tiếp mà chưa chắc đã đồng ý.

Năm 1985, Reagan và Volcker đã ép buộc thành công Nhật chấp nhận đồng Yen lên giá để giải quyết các imbalances của Mỹ. Bush và Greenspan đã không làm được như vậy với TQ, để rồi cuộc khủng hoảng hiện tại nổ ra. Tất nhiên người Mỹ phải chịu hậu quả đầu tiên, nhưng không ai tiên liệu được cuộc khủng hoảng này sẽ dừng lại ở đâu. Nếu khoảng tháng 9-10/2008 trung tâm động đất ở Mỹ thì hiện tại nó đã chuyển sang các nước Đông Âu, và nhiều người dự báo nó sẽ đi dần sang phía Đông. Có thể TQ sẽ trắng tay trong ván bài kinh tế vẫn "chơi" lâu nay. Ngược lại nếu TQ skillful enough và may mắn, họ sẽ xoay chuyển được global geopolitical landscape theo một hướng mới. Đó có lẽ là bản chất dân tộc TQ, sẵn sằng nhin ăn nhịn mặc, bị bóc lột khinh rẻ trong thời gian dài để vùng lên đúng lúc. Có điều chiến lược này rất rủi ro và người lãnh đạo phải sẵn sàng hi sinh welfare của cả dân tộc trong một (vài) thế hệ để có được cơ hội "thắng làm vua".

Update (13/02/09): Luo Ping, giám đốc Ủy ban Giám sát ngân hàng TQ, thừa nhận TQ không có lựa chọn nào khác ngoài việc mua US treasuries cho dự trữ ngoại tệ của mình dù biết rằng USD sẽ mất giá.

Update (26/03/09): David Merkel cũng cho rằng TQ sẽ mất một phần dự trữ ngoại tệ của mình vì USD sẽ mất giá sau hàng loạt các chính sách bailout và stimulust của Mỹ. Nhưng đó là cái giá phải trả cho forced industrialization.


Consumer credits


Đồ thị sau đây biểu diễn consumer credits của Mỹ trong năm 2008. Điểm nổi bật là credit card spending (đường mầu đỏ) tăng đột biến từ sau tháng 7/2008. Nói theo Rebecca Wilder, từ tháng 7 đến giờ dân Mỹ sống dựa vào credit cards. Đây là một dấu hiệu rất nguy hiểm cho thị trường tài chính Mỹ nếu một cuộc khủng hoảng credit card lending nổ ra vào lúc này. Có lẽ vì vậy nên Fed đã phải gia tăng TALF, trực tiếp hỗ trợ cho credit card lending market.

(Source: Rebecca Wilder)


Update: WSJ trích lời Mary Delk, một chuyên gia về retails của Delloitte, cho rằng retailers chuyển từ "Ho ho ho..." hàng năm sang "Oh no" trong mùa Giáng sinh năm nay khi sức mua của dân Mỹ giảm kỷ lục trong lịch sử. Credit cards cũng không cứu nổi private consumption của Mỹ, mà đây là phần quan trọng nhất trong GDP (72%).


Thursday, December 25, 2008

China


Khi subprime mortgage crisis của Mỹ bắt đầu manh nha đầu năm 2007, rất nhiều người đề cập đến khái niệm "decoupling". Từ này được hiểu là kinh tế thế giới không còn bị phụ thuộc vào kinh tế Mỹ nữa, dù Mỹ có bị khủng hoảng và suy thoái thì châu Âu và emerging markets, đặc biệt là China, cũng sẽ không hề hấn gì. Lý do là sau khi bức tường Berlin sụp đổ và chiến tranh lạnh kết thúc, một nửa kia của nhân loại đã hòa nhập vào nền kinh tế thế giới (tư bản) và làm tương quan của Mỹ nhỏ lại. Bây giờ uncle Sam có hắt hơi sổ mũi cũng không ảnh hưởng gì các nước khác vì thế giới đã xuất hiện nhiều đầu tàu khác thay thế rồi. Có lẽ đó cũng là lý do tại sao dù cán cân thương mại của Mỹ càng ngày càng thâm hụt và dân Mỹ đã quên đi khái niệm tiết kiệm nhưng không mấy ai lo lắng.

Sang nửa đầu 2008, tư tưởng decoupling vẫn rất popular. Người ta dẫn chứng tăng trưởng và lạm phát ở nhiều nước còn rất cao, chứng tỏ kinh tế vẫn đang phát triển quá nóng. Khi có ý kiến cho rằng giá dầu tăng phi mã trong 7 tháng đầu năm 2008 một phần do giới đầu cơ đã manipulate thị trường, Paul Krugman và một số nhà kinh tế uy tín khác đã thẳng thừng bác bỏ lập luận này. Krugman cho rằng giá dầu và các nguyên liệu thô khác tăng mạnh phản ánh sức tăng trưởng rất bền vững của kinh tế thế giới mà cụ thể là China.

Thậm chí sau khi giá dầu sụp đổ và hệ thống tài chính Mỹ chìm sâu vào khủng hoảng khi Lehman Brothers phá sản, nhiều người vẫn hi vọng China sẽ cứu nguy cho kinh tế thế giới dù các dự báo tăng trưởng đã được hạ thấp xuống đáng kể. Người ta viện dẫn số dự trữ ngoại tệ khổng lồ của China, rồi cán cân thương mại vẫn thặng dư rất lớn, và các số liệu thống kê kinh tế vẫn có mức tăng trưởng tương đối tốt. Trong số các lập luận lạc quan này, đặc biệt nhất là nhận xét của Marshall Auerback, một chuyên gia về châu Á mà tôi đã trích dẫn trong một entry trước về Japan.

Theo Auerback, từ trước tới giờ số liệu export của China bị sai lệch nhiều vì rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài dùng con đường overbilling các hợp đồng export của China để ngầm đem tiền vào đầu cơ, tránh các qui định về kiểm soát ngoại tệ và đầu tư nước ngoài ngắn hạn (portfolio investment). Bởi vậy khi kinh tế các nước phát triển bị ngưng trệ, số hot money này giảm rất nhanh làm cho giá trị xuất khẩu của China giảm mạnh. Do đó sự sụt giảm export không phản ánh real demand, có lẽ real demand giảm chậm hơn nhiều so với những gì số liệu thống kê cho biết. Vì China vẫn còn thặng dư mậu dịch lớn và nợ nước ngoài rất ít nên sự đảo chiều của hot money không có nhiều tác hại với nền kinh tế.

[Ngoài lề: Tôi cho rằng một phần trong số tiền kiều hối hàng năm của VN cũng là "hot money". Tuy nhiên VN khác với TQ ở chỗ VN bị thâm hụt thương mại và có nợ nước ngoài lớn. Bởi vậy vai trò của hot money rất quan trọng. Có thể đây là lý do NHNN không cắt lãi suất và phá giá VNĐ aggressively hơn. Lý thuyết ngoại thương có đề cập đến hiệu ứng J-curve khi phá giá, vấn đề là dự trữ ngoại tệ sẽ chịu nhiều sức ép khi balance of payments rơi xuống cái đáy của chữ J, cho nên hot money tháo chạy có thể là giọt nước cuối cùng làm tràn ly. Một hi vọng duy nhất là hot money dưới dạng kiều hối có thể đã bị chôn vào bất động sản và chứng khoán, do vậy tình hình thị trường đang bị đóng băng sẽ ngăn số tiền này chảy ngược ra nước ngoài.]

Điểm lạc quan thứ hai của Auerback là cơ cấu các công ty của China. Vì đa số các công ty đều cố gắng xuất khẩu sản phẩm ra thị trường nước ngoài (có giá cao hơn và có thể được chính phủ trợ cấp), chi phí lao động trong các công ty đó có thể coi là fixed cost. Bởi vậy họ sẽ phải cân nhắc rất cẩn thận trước khi sa thải công nhân và giảm sản lượng. Dù sao đi nữa các công ty đó vẫn còn một thị trường 1.2 tỷ dân để có thể bán đổ bán tháo sản phẩm của mình (cộng thêm một thị trường 80 triệu dân ở phía Nam nữa). Cho nên sẽ không có chuyện các nhà xuất khẩu của China đóng cửa sản xuất ngay khi họ gặp khó khăn trên thị trường quốc tế, ít nhất là trong ngắn hạn. (Trái lại các doanh nghiệp gia công của VN sẽ phải cắt giảm sản xuất và sa thải công nhân ngay tức thì khi họ không còn đơn đặt hàng nữa vì không có thị trường trong nước và cũng không tự sản xuất được nguyên vật liệu đầu vào.)

Hậu quả là giá cả nhiều mặt hàng trong thị trường nội địa China sẽ giảm đáng kể, dẫn đến giảm phát. Tuy nhiên vì giảm phát có nguyên nhân từ các mặt hàng vốn được xuất khẩu (manufacturing goods) nên ảnh hưởng lên giá dịch vụ và nông sản (non-traded goods) sẽ không lớn. Điều này cũng làm giảm tác động tiêu cực của giảm phát lên nền kinh tế, chưa kể khi real income tăng lên người dân sẽ cảm thấy dễ thở hơn và nguy cơ social unrests ở China mà báo chí các nước đã và đang cảnh báo có thể sẽ không quá nghiêm trọng. (Đây cũng là khác biệt giữa TQ và VN: khi một nước/một cá nhân là chủ nợ thì giảm phát sẽ có lợi, ngược lại con nợ sẽ phải chịu thêm gánh nặng nợ nần khi có giảm phát.)

Như vậy, Auerback vẫn tin (dù chỉ một phần) vào decoupling, điều mà nhiều người hi vọng sẽ là cứu cánh cho kinh tế thế giới trong thời gian tới. Cá nhân tôi không bị thuyết phục bởi các lập luận của Auerback, và thậm chí kể cả nếu kinh tế TQ sẽ trụ được qua cơn sóng gió này như Auerback lập luận, VN sẽ càng gặp nhiều bất lợi về mặt kinh tế khi hàng TQ tràn vào. Mới vài tháng trước có người cảnh báo TQ xuất khẩu lạm phát sang VN, sắp tới sẽ là giảm phát. Beggar-thy-neighbour không phải là một chính sách tốt, nhưng một khi "đội bạn" đã phat hỏa, inferior equilibrium của Nash là giải pháp duy nhất rational.


Wednesday, December 24, 2008

Uncertainty index


Làm thế nào để đo lường mức độ uncertainty trong một nền kinh tế? Michelle Alexopoulos và Jon Cohen  đưa ra một sáng kiến rất độc đáo: xây dựng một uncertainty index dựa vào số lượng bài báo có chứa từ "uncertainty" hoặc "uncertain" economy trong một ngày trên tờ New York Times. Kết quả rất bất ngờ, index này có thể giải thích được 25% độ biến động của GDP và khá trùng hợp với S&P implied volatility. Dùng số liệu này, hai tác giả đã dự báo kinh tế Mỹ sẽ giảm khoảng 1% trong năm 2009. Nhưng quan trọng hơn, uncertainty index đã vượt qua đỉnh hồi tháng 10/2008 và bắt đầu giảm, một tia hi vong cuối đường hầm.

VN chưa có options cho chỉ số chứng khoán để có thể tính implied volatility, nhưng chắc các tờ báo lớn như Saigon Times, hay VNEconomy có thể thống kê được số bài báo có chứa keywords đại loại như "khủng hoảng" hay "suy thóai". Biết đâu index đó có chứa thông tin hữu ích.


Original sin


Đây là thuật ngữ được Barry Eichengreen đưa ra để chỉ việc nợ nước ngoài của các nước đang phát triển đa phần denominated bằng ngoại tệ. Do vậy trong những thời điểm khó khăn các nước này không dám phá giá đồng nội tệ để kích thích xuất khẩu vì như vậy sẽ làm tăng số lãi suất phải trả cho cho các chủ nợ nước ngoài.

Sự dụng số liệu trong một báo cáo của CEPR (thuộc ĐHKTQD), tôi ước tính năm 2008 VN phải trả lãi và gốc cho các khoản nợ nước ngoài khoảng 3% GDP. Nếu VN phá giá VNĐ 20%, ví dụ từ 17,000 lên 20,500, thì khoản trả nợ nước ngoài sẽ tăng lên 20% tương ứng, nghĩa là 3.6% GDP. Vậy trong trường hợp VN, phá giá VNĐ 20% liệu có làm GDP tăng lên hơn 0.6% hay không, nếu không thì rõ ràng phá giá là không hiệu quả. Chưa kể 0.6% tăng thêm này là từ ngân sách, nên dù GDP tăng hơn 0.6% thì tổng thể nền kinh tế sẽ có lợi nhưng chưa chắc ngân sách đã thu được đủ để bù vào phần trả nợ tăng, do đó thâm hụt ngân sách sẽ lớn thêm, điều mà cả chính phủ và các chủ nợ đều không muốn.

Tuy nhiên Paul Krugman, lấy dẫn chứng trường hợp Latvia từ một bài viết của Edward Hugh, cho rằng ảnh hưởng vào gánh nặng trả nợ nước ngoài từ nominal devaluation sẽ giống hệt như real devaluation thông qua domestic deflation. Đây là một argument rất quan trọng và mang nhiều hơi hướng của trường phái neo-classical, trong khi Krugam là một Keynsian chính hiệu.

Update (31/12): Sau khi nhìn thấy đồ thị dưới đây từ Econompicdata, tôi nhận ra rằng những lập luận trong entry này chưa tính đến private sector debt. Đây là một thiếu sót nghiêm trọng vì như trong trường hợp của China dù oficial foreign reserve lên đến gần $2tr, chỉ riêng private debt payments trong năm 2009 đã vượt xa con số đó. Do vậy original sin là mối lo thực sự cho Chinese policy makers, có thể nói đây là trở ngại chính ngăn China phá giá đồng Yuan mạnh hơn.



Update (25/02/09): Michael Klein (WB) cho biết tổng số nợ nước ngoài của các doanh nghiêp (private sector) ở emerging economies phải roll-over trong năm 2009 là $1.25-$2 trillion, thấp hơn số FT report bên trên. Tuy nhiên đây cũng là một con số khổng lồ, nhất là trong tình hình khủng hoảng tài chính hiện nay.

Update (07/09/09): Theo Thống đốc NHNN VN Nguyễn Văn Giàu, nếu VNĐ mất giá 5% thì hàng năm ngân sách phải trả nợ thêm VNĐ25,000b, doanh nghiệp phải trả thêm VNDD13,000b. Hầu hết các ngành xuất khẩu của VN đều phải nhập khẩu đến 80% nguyên liệu. Như vậy original sin của VN là một vấn đề rất quan trọng.


QE Primer





Overshooting


Khái niệm overshooting trong kinh tế phản ánh sự biến đổi thái quá của một biến số kinh tế, ví dụ tỷ giá hay tốc độ tăng trưởng kinh tế. Điều kiện tiên quyết để overshooting có thể xảy ra là nền kinh tế có các cơ chế bị rigidity, ví dụ giá cả hay lao động. Trên thị trường tài chính, hiện tượng overshooting này có thể thấy rất rõ, không chỉ ở các chỉ số tài chính mà còn ở tâm lý các nhà đầu tư: từ hứng khởi thái quá sang bi quan thái quá. Tất nhiên overshooting là điều không tốt và cần phải có các biện pháp để giảm thiểu nó.

Bên cạnh hiện tượng overshooting trong kinh tế, Roger Altman vừa có một bài viết trên Foreign Affairs trong đó nêu lên một dạng overshooting nữa. Đó là overshooting trong các chính sách regulation. Nhiều người đã chỉ trích TNS Phil Gramm và chính sách deregulation của ông này trong thập kỷ 90, dẫn đến sự bùng nổ của investment banking, là một trong các nguyên nhân của cuộc khủng hoảng hiện tại. Có thể nói quá trình deregulation thái quá của Phil Gramm là một overshooting về mặt quản lý. Có lẽ quá say sưa với Great Moderation, Phil Gramm và Alan Greenspan đã đẩy deregulation đi quá xa.

Ngược lại, Roger Altman cho rằng sắp tới sẽ có khả năng quá trình re-regulation sẽ bị overshot theo hướng ngược lại. Greenspan và nhiều nhà kinh tế gần đây đã cho rằng phải áp đặt equity/asset ratio cho hệ thống ngân hàng cao hơn, có thể là 14%. Vấn đề là con số này có bị overshot hay không? Rồi những qui định mới về vay/cho vay có quá khắc nghiệt không để đến mức credit cho nền kinh tế sẽ bị bóp nghẹt? Altman cho rằng điều này nhiều khả năng sẽ xảy ra, mà tiền lệ gần đây nhất là luật Sarbanes-Oxley năm 2002 ra đời sau vụ Enron và Worldcom phá sản.

Nếu lập luận của Altman đúng, đáng tiếc là overshooting trong regulation sẽ khuếch đại overshooting trong kinh tế.


Tuesday, December 23, 2008

Emergency plan


Tháng trước, khi Hà nội bị mưa ngập làm
20 người thiệt mạng, đã có nhiều ý kiến phê phán thành phố không có các kế hoạch đối phó với tình trạng khẩn cấp. Không biết đến thời điểm này Hà nội đã rút kinh nghiệm và soạn thảo emergency plan đề phòng các tình huống xấu xảy ra chưa. Nhưng để các emergency plan có hiệu quả, trước hết người ta phải mường tượng những tình huống xấu nhất có thể xảy ra là gì.

Đây chính là ý tưởng của Saxo bank, một ngân hàng ở Đan mạch rất nổi tiếng về dịch vụ online trading. Cuối mỗi năm, Saxo bank đưa ra một danh sách 10 dự báo "không tưởng" (outrageous forecasts) coi như là những tình huống xấu nhất có thể xảy ra trong năm sau để giúp các nhà đầu tư lên emergency plan cho mình. Trong số mười dự báo "không tưởng" của Saxo bank
cuối năm 2007, đến giờ chỉ có duy nhât dự báo TNS Ron Paul sẽ trúng cử tổng thống trong cuộc bầu cử tháng 11 vừa qua là sai hoàn toàn, còn lại cả 9 điều "không tưởng" kia đều đã xảy ra không ít thì nhiều. Ví dụ dự báo S&P 500 sẽ giảm 25% trong năm 2008, kết quả là giảm gần 50%. Hay như dự báo GDP của UK sẽ có tăng trưởng âm, thực tế là UK đã rơi vào suy thóa từ quí 2.

Không biết các nhà đầu tư đọc được danh sách dự báo của Saxo bank cuối năm ngoái có đề phòng được những gì đã xảy ra không. Một điều rõ ràng là đa số các tổ chức tài chính lớn đã không đề phòng gì cả, để đến mức chết thảm như Bear Stearns hay Lehman. Vậy nên năm nay chắc nhiều người sẽ quan tâm hơn đến 10 dự báo "không tưởng" cho năm 2009 của Saxo bank. Và đây là
10 dự báo:

1. Iran sẽ có rối loạn xã hội vì giá dầu xuống thấp làm chính phủ không có đủ ngân sách để cung cấp các nhu yếu phẩm cho người dân nữa.

2. Giá dầu sẽ tụt xuống $25/thùng vì thế giới rơi vào một cuộc suy thoái tệ hại nhất kể từ Đại khủng hoảng. (Dầu thô hiện tại khoảng $33/thùng).

3. S&P 500 sẽ rớt xuống 500 vì lợi nhuận của các công ty giảm, nhà đất tiếp tục mất giá, và các công ty vẫn tiếp tục gặp khó khăn khi huy động vốn. (S&P hiện đang khoảng 880).

4. Khu vực đồng tiền chung châu Âu bị rạn nứt và Ý sẽ chính thức từ bỏ liên minh.

5. Tỷ giá AUD/JPY sẽ rớt xuống 40 do kinh tế Úc suy thoái vì giá nguyên liệu thô thế giới giảm mạnh. (hiện tại AUD/JPY đang khoảng 60).

6. Tỷ giá EUR/USD sẽ rớt xuống 0.95, rồi sẽ phục hồi lại khoảng 1.30, vì các ngân hàng châu Âu đã đầu tư quá nhiều vào các nước Đông Âu. (Tỷ giá hiện tại đang là 1.40).

7. Tăng trưởng kinh tế của Trung quốc sẽ rơi xuống zero vì TQ không xuất khẩu được hàng hóa nữa, nhất là sang Mỹ.

8. Nhiều đồng tiền của các nước Đông Âu sẽ bị sức ép rất lớn phải bỏ tỷ giá cố định với đồng EUR do vốn nước ngoài ở các nước này bị rút ra hàng loạt.

9. Reuters/Jefferies CBR index, chỉ số giá các loại nguyên liệu thô, sẽ giảm 30% xuống 150 vì bong bóng giá nguyên liệu thô sẽ vỡ (Hiện tại RJ/CBR đang là 220).

10. Lần đầu tiên trong lịch sử sẽ có một nước châu Á cố định tỷ giá của đồng tiền nước mình với đồng Nhân dân tệ của Trung quốc.

Hãy đợi xem 10 dự báo "không tưởng" này có cái nào sẽ trở thành sự thật. Trong khi đó có lẽ chúng ta nên có emergency plan đề phòng những tính huống xấu này xảy ra. Đó chính là mục đích của Saxo bank.


Update (30/12): Dự báo sau đây của Igor Panarin, hiệu trưởng Học viện Ngoại giao Nga, mới thực sự là "không tưởng": 
"...mass immigration, economic decline, and moral degradation will trigger a civil war next fall and the collapse of the dollar. Around the end of June 2010, or early July, he says, the U.S. will break into six pieces -- with Alaska reverting to Russian control."


Monday, December 22, 2008

Irony


Thời những năm 60-70 của thế kỷ trước, hai trường phái kinh tế vĩ mô Keynesian, do John Maynard Keynes khởi xướng, và monetarism, do Milton Friedman đứng đầu đã từng đụng độ với nhau rất quyết liệt. Keynesian cho rằng khi khủng hoảng kinh tế như thời 29-33 chỉ có chính sách tài khóa mới có tác dụng. Ngược lại monetarist chỉ tin vào monetary policy, đổ lỗi cho Fed đã không nới lỏng chính sách tiền tệ kịp thời trong giai đoạn 29-33 làm kinh tế Mỹ bị khủng hoảng. 

Đến tận thời điểm này, hai nhà kinh tế lớn là Paul Krugman và Greg Mankiw vẫ đang tranh luận xem fiscal hay monetary là giải pháp hiệu quả nhất cho cuộc khủng hoảng hiện tại. Tuy vậy, Niall Ferguson, giáo sư của Harvard Business School, chỉ ra rằng hiện tại chính sách của Mỹ đi theo cả hai trường phái nói trên, Trong khi Fed nới lỏng chính sách tiền tệ tối đa thì Treasury cũng đưa ra những fiscal package lớn kỷ lục. Có điều chưa ai thấy Bernanke và Paulson "găng" với nhau như Krugman và Mankiw.