Tuesday, May 13, 2014

HD-981


Cách đây ngót nghét 20 năm khi tôi mới vào ngành dầu khí, có một sự kiện trong ngành làm tôi rất thắc mắc. Lúc đó ONGC, công ty dầu khí quốc gia Ấn độ, bán lại đặc quyền khai thác một số lô dầu khí ngoài khơi VN cho các công ty nước ngoài. Những quyền này trước đó được Tổng cục dầu khí (tiền thân của PVN) giao cho ONGC với giá rất rẻ nên họ đã "hời to" khi chẳng phải làm gì mà thu được một mớ tiền. Nói theo ngôn ngữ hiện nay là ONGC chạy được và bán lại dự án trên giấy mà chẳng phải đầu tư gì cả.

Điều đáng nói là phía VN lúc đó không những không phàn nàn gì mà thậm chí còn đứng ra giàn xếp cho ONGC đàm phán với các đối tác nước ngoài khác để đẩy nhanh tiến độ. Tôi đem thắc mắc này hỏi một vài đồng nghiệp có thâm niên thì được giải thích rằng giai đoạn cuối thập kỷ 80 - đầu 90 VN còn bị cấm vận nên các công ty dầu khí phương Tây chưa thể vào VN đấu thầu quyền thăm dò khai thác. Nhưng lúc đó VN cần phải "cắm mốc chủ quyền" thật nhanh bằng các hoạt động thăm dò khai thác offshore, ONGC gần như là lựa chọn duy nhất (bên cạnh Zarubezhneft của Nga đã ký liên doanh Vietsovpetro và bắt đầu khai thác Bạch Hổ). Do vậy dù biết ONGC sẽ chẳng làm gì vì họ không có thực lực, phía VN buộc phải giao quyền thăm dò khai thác một số lô cho ONGC trong cuộc chạy đua với TQ khi nước này còn khá yếu và vẫn bị dư âm của sự kiện Thiên An Môn.

Những năm sau đó chiến thuật "cắm cột mốc chủ quyền" bằng cách giao quyền thăm dò khai thác cho các công ty dầu khi nước ngoài đã được cả hai bên sử dụng khi chưa đủ sức tự làm. VN giao cho Mobil, TQ giao cho Creston, nhưng cả hai công ty tư bản này đều "rét" khi tầu chiến của VN và TQ hiện diện. Họ nhận thăm dò khai thác hoàn toàn vì mục đích thương mại nên chẳng dại gì làm công cụ cho VN hay TQ trong cuộc tranh chấp lãnh hải.

Không nhờ được nước ngoài, VN giao cho PVN xây dựng các giàn DK gần khu vực Trường Sa, tuy nhiên năng lực của PVN chỉ làm được giàn cố định ở các khu vực nước nông (100-200m). Trong khi đó CNOOC của TQ với thực lực mạnh hơn nhắm đến các vùng nước sâu (>1000m), là phần lớn cái "lưỡi bò" mà họ tự vẽ, với giàn semi-submersible HD-981. Tôi tin là phía VN/PVN đã theo dõi sát sao quá trình đóng HD-981 và thừa biết thời điểm TQ đem nó xuống Biển Đông đã cận kề.

Đầu năm 2014 nói chuyện vói một insider của PVN tôi được biết phía VN đã cố tìm đối tác triển khai thăm dò khai thác ở các vùng tranh chấp với TQ (nước sâu). Tuy nhiên chỉ có Nga có khả năng tham gia, cả về mặt công nghệ lẫn khả năng đối đầu với TQ nếu có đụng độ. Rất không may cho VN, sự kiện Ukraine xảy ra đã đẩy Nga và TQ lại gần nhau quá nhanh và hiển nhiên Putin đã chọn ngả về phía TQ thay vì VN, cho dù có thể nói VN là quốc gia "thân Nga" vào bậc nhất thế giới. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu Putin biết trước việc TQ kéo HD-981 xuống Biển Đông và cuộc tập trân Nga-Trung hoàn toàn không phải tình cờ.

Không dựa được vào Nga, Ấn độ thì 20 năm rồi vẫn chưa đủ mạnh để trở thành đối trọng với TQ, ASEAN chia rẽ như truyền thống vốn có của tổ chức này, VN chỉ còn một con đường ngả về phía Mỹ nếu không muốn bị TQ nuốt trọn Biển Đông. Từ hơn 20 năm trước VN đã hiểu rằng tự mình không thể chống được mộng bành trướng của ông anh phương Bắc và cần phải có đồng minh thay thế Liên Xô đang sụp đổ.

Ở thời điểm hiện tại bằng mọi giá VN phải đuổi được HD-981 ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của mình, nếu không bước tiếp theo của TQ sẽ là kéo HD-981 đi khắp Biển Đông dù có khoan được dầu hay không. Ngả về phía Mỹ như thế nào tôi không biết, nhưng nếu VN back down khỏi TPP thì đó chắc chắn là dấu hiệu Biển Đông sẽ mất. Nếu đợt đàm phán TPP tới tiến triển tốt, tôi tin không quân/hải quân VN sẽ sớm xuất đầu lộ diện ở khu vực HD-981.

Thursday, April 24, 2014

Capital II


Tôi sẽ không viết review quyển "Capital in the 21st Century" (sau đây sẽ viết tắt là C21C) của Thomas Piketty (TP), có quá nhiều bài review rồi và chắc chắn tôi không thể viết hay bằng những cây bút nổi tiếng như Paul Krugman, Robert Solow, Tyler Cowen, hay Nguyễn Vạn Phú (danh mục các bài review tôi sưu tập được có trong entry Capital trước). Tuy nhiên vì vẫn muốn "ăn theo" nên tôi sẽ viết một số entry, không phải review mà là viết lại những suy nghĩ/nhận xét của tôi khi đọc quyển sách này.


1.
Tôi đã có lần đề cập đến Angus Maddison, một nhà kinh tế mà tôi rất kính trọng về công trình thu thập số liệu kinh tế thế giới trong hơn 1000 năm qua của ông. Thomas Piketty (TP) trong quyển sách của mình cũng nhắc đến Maddison nhiều lần, tôi nghĩ không hẳn vì TP sử dụng số liệu mà Maddison thu thập mà còn vì TP cũng có quan điểm giống tôi về vai trò của số liệu lịch sử. Nhưng TP không chỉ thán phục công trình của Maddison mà bản thân ông đã bỏ hơn 10 năm thu thập và xây dựng một bộ số liệu đồ sộ về capital và income để có thể, nói theo cách của nhà báo Nguyễn Vạn Phú, zoom in và zoom out hiện tượng inequality trong hàng trăm năm. Tất cả các reviewer mà tôi đã đọc, dù khen hay chê quyển sách, cũng đều thừa nhận đây là một công trình lớn. Cũng giống như Maddison, tôi cho rằng điều quan trọng nhất mà TP để lại cho nhân loại là bộ số liệu này chứ không phải những qui luật mà ông đã chỉ ra

Vậy tại sao bộ số liệu của TP (và bộ của Maddison - và một mức độ nào đó bộ số liệu Địa bạ của vua Gia Long) lại quan trọng và quí giá như vậy? Có hai lý do chính. Thứ nhất, kinh tế học là một ngành khoa học xã hội mà đặc điểm chung của nhóm ngành khoa học này là số liệu (data) do các hoạt động của con người tạo ra không thể lặp lại như nhiều ngành khoa học tự nhiên khác. Bởi vậy nếu không được ghi nhận và lưu trữ những số liệu đó sẽ mất vĩnh viễn (trừ khi loài người phát minh ra time machine). Càng để lâu khả năng tìm và tập hợp lại số liệu trong quá khứ càng khó khăn, nhất là số liệu trước thế kỷ 20.

Lý do thứ hai là nhiều qui luật kinh tế, xã hội có thể trải dài hàng thế kỷ nên số liệu của các cơ quan thống kê các nước ghi nhận trong khoảng 100 năm lại đây không đủ để phân tích những qui luật đó. Vấn đề inequality là một ví dụ, nếu chỉ có thể zoom out được trong vòng 50-60 năm lại đây, qui tắc Kuznets' curve có thể đúng nhưng khi có số liệu dài hơn TP đã phủ nhận qui luật này. Một ví dụ khác là lý thuyết tỷ giá PPP mà tôi đã có lần nhắc đến. Đa số các nghiên cứu định lượng đều không xác nhận PPP, tuy nhiên điều này có thể đơn giản vì chuỗi số liệu mà những nghiên cứu đó sử dụng chỉ bao trùm 20-30 năm lại đây. Có ý kiến cho rằng để kiểm định được lý thuyết PPP có thể các nhà kinh tế phải đợi để có sample dài hơn 100 năm thì kiểm định mới đủ tin cậy.


2.
Trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, ngành kinh tế học được gọi là political economy. Các nhà kinh tế ít nhiều đều có khuynh hướng triết học và anthropology (nhân chủng học?) muốn đưa ra các phân tích và giải thích cho những vận động kinh tế macro trong xã hội. Họ quan tâm đến các vấn đề vĩ mô như làm thế nào để một quốc gia thịnh vượng (Adam Smith), tại sao international trade lại quan trọng (David Ricardo), tăng trưởng dân số có tác động thế nào đến ổn định kinh tế và xã hội (Thomas Malthus). Karl Marx là một điển hình của các nhà kinh tế trong giai đoạn này, ông đã xây dựng một lý thuyết ở tầm macro giải thích cho sự vận hành của nền kinh tế (tư bản).

Một đặc điểm chung các nghiên cứu/lý thuyết political economy trong giai đoạn này, từ Smith đến Marx, là sự thiếu vắng số liệu macro. Mặc dù một số học giả trong thế kỷ 18-19 đã cố gắng thu thập và xây dựng một số bộ số liệu macro cho một số nền kinh tế (e.g. Anh, Pháp), những số liệu này quá thô sơ và không đầy đủ cho các nghiên cứu political economy lúc đó. Hạn chế về số liệu buộc các học giả phải xây dựng lý thuyết trên các quan sát micro của mình hoặc một vài tác giả khác và/hoặc dựa vào suy luận logic của bản thân. Điều này làm phương pháp luận khoa học của political economy, giống như những ngành khoa học xã hội khác, đi theo hướng positivism, trái ngược với các ngành khoa học tự nhiên (vật lý, hoá học, sinh học) đang phát triển rất mạnh trong giai đoạn đó với nền tảng phương pháp luận theo hướng deductivism (i.e. dựa vào số liệu thực tế để kiểm chứng và xây dựng lý thuyết).

Political economy dịch chuyển dần thành economics trong nửa cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 khi trường phái marginalism dần dần trở thành mainstream. Có không ít giả thuyết cho rằng các nhà kinh tế khi nhìn thấy sự thành công của các ngành khoa học tự nhiên đã muốn áp dụng phương pháp luận khoa học của những ngành này vào kinh tế học. Lý thuyết kinh tế chuyển dịch từ một tập hợp rhetorics sang các mô hình (toán) với các giả định rõ ràng có thể kiểm chứng được bằng số liệu thực tế. Nhưng có lẽ vì số liệu macro thời đó còn rất hiếm nên sự dịch chuyển này dần dần lái focus của kinh tế học từ macro sang micro, lĩnh vực mà số liệu giá cả và tiêu dùng của từng loại hàng hoá riêng lẻ hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh của từng công ty đã tương đối phổ biến.

Sự ra đời của national accounting ở Mỹ trong giai đoạn 1930s rồi lan sang châu Âu sau WWII có lẽ không chỉ là tình cờ mà còn là động lực giúp cho những quan tâm vĩ mô hồi sinh trở lại. Nhiều người cho rằng Keynes là cha đẻ của macroeconomics còn Solow mở đầu cho growth theory, nhưng có lẽ những lý thuyết đó chỉ là sự quay trở lại với những mối quan tâm của political economy trong thế kỷ 18-19 dưới một hình hài khác. Những công trình vĩ mô này ít rhetorics hơn, nhiều mô hình (toán) hơn và có một điểm khác biệt rõ ràng là sử dụng nhiều số liệu macro hơn. Có thể nói kinh tế học với xuất phát điểm là những quan tâm vĩ mô đã phải loay hoay gần một thế kỷ để đợi số liệu.


3.
Số liệu macro trong kinh tế sở dĩ ra đời rất muộn như vậy (trừ một số ngoại lệ đơn giản trong thế kỷ 18-19) vì nó không observable, nghĩa là không thể cân đong đo đếm được trực tiếp. Trong nhiều trường hợp số liệu macro không tồn tại trên thực tế mà chỉ là một "social construct". Lấy ví dụ giá cả của một mặt hàng bất kỳ có thể thay đổi lên xuống và đại lượng này observable. Khi các nhà kinh tế đưa ra khái niệm "lạm phát" họ nói về một đại lượng không tồn tại trong thực tế mà chỉ là một khái niệm lý thuyết được xây dựng nhằm mô tả và giải thích hoạt động của một nền kinh tế (tư bản). Tất nhiên "lạm phát" unobservable nên cơ quan thống kê (hoặc các tổ chức tư nhân) phải tìm cách lượng hóa nó thông qua một số (social) construction như CPI, PPI, hay các loại chỉ số giá macro khác. Bản thân các chỉ số này cũng unobservable, thông thường được tính toán từ tập hợp số liệu (micro) về giá của rất nhiều loại hàng hóa dịch vụ khác.

Điều này có một hệ quả quan trọng là các mô hình/lý thuyết macro có thể nói đến các khái niệm/đại lượng macro khác nhau dù có tên gọi như nhau. Quyển C21C của TP viết về capital, nhiều người so sánh nó với Das Kapital của Marx nhưng về bản chất "capital" trong hai tác phẩm này không nhất thiết là một. James K. Galbraith cho rằng khái niệm capital của Marx rộng hơn nhiều so với capital của TP. Với Marx, capital là một tập hợp các socio-economic & legal relationships đảm bảo cho quyền được quyết định các hoạt động kinh tế trong xã hội (và với mục đích tối thượng là "bóc lột" labor surplus từ những người lao động không có các quyền này). Trong khi đó capital của TP được hiểu theo nghĩa truyền thống của neoclassical economics, i.e. một trong những input của quá trình sản xuất. Tất nhiên việc xác định ownership của capital sẽ đưa hai khái niệm này lại gần nhau nhưng chúng vẫn không thể là một.

Khi Marx viết Das Kapital không chỉ khái niệm capital khác với TP mà số liệu về (physical) capital chi tiết chưa tồn tại, ngoại trừ một số bộ số liệu sơ khai của Petty, de Vauban, hay Giffen. Thời điểm TP viết C21C giá cổ phiếu của hàng triệu công ty được cập nhật từng giây, national accounts của hầu hết các quốc gia được cập nhật hàng quí, chưa kể vô số các cuộc khảo sát vĩ mô không định kỳ. Sự bùng nổ về sồ liệu, cả về lượng lẫn năng lực tính toán, là một thế mạnh của TP so với Marx. Bản thân TP khi mở đầu quyển sách đã tỏ ý phê phán những đại thụ đi trước như Malthus, Ricardo, Marx về những phân tích thiếu vắng số liệu của họ. Việc TP trích dẫn Jane Austen hay Honore de Balzac có thể hàm ý rằng quan sát của những nhà kinh tế cổ điển (thời đại political economy) cũng chẳng "reliable" gì hơn các tác phẩm văn học. Quyển C21C trước hết là một công trình thu thập số liệu công phu, hơn hẳn những tác giả mà TP nhắc đến.

Tuy nhiên một trong những phê phán quan trọng nhất cho C21C mà tôi đã đọc được chính là của James Galbraith về khái niệm capital với một núi data của TP. James Galbraith (con trai của John Kenneth Galbraith) là một nhà kinh tế có khuynh hướng leftwing (như TP) và cũng là một chuyên gia về inequality. Ông cho rằng khi TP (và các nhà kinh tế neoclassical khác) sử dụng khái niệm capital như một input cho quá trình sản xuất, đồng nghĩa với việc phải quantify số liệu capital cho một nền kinh tế, họ buộc phải sử dụng market price để đo lường giá trị của capital. Đây là một điều nguy hiểm vì market price thường xuyên biến động rất xa khỏi intrinsic value (theo nghĩa input value) nên vai trò của capital trong nền kinh tế có thể bị under- hay overvalue. Những cuộc khủng hoảng hay bubble trên thị trường có thể làm các phân tích liên quan đến market price bị méo mó.

Việc sử dụng market price, theo lập luận trong cuộc tranh luận Cambridge-Cambridge nổi tiếng, dẫn đến một vấn đề khác rất nghiêm trọng khi thống kê số liệu macro về capital. Market price trong nhiều trường hợp là present value of expected future incomes. Cứ giả sử expected future incomes đúng (cho một công ty, một thiết bị máy móc, hay một financial instrument), để tính present value người ta sẽ phải giả định một discount factor nào đó. Discount factor trên nguyên tắc là expected return on capital. Điều này dẫn đến một cái vòng luẩn quẩn (recursive) là để tính return on capital TP phải tính tổng giá trị của capital nhưng trước đó lại phải sử dụng discount factor là chính co số return on capital mà mình cần xác định. Tất nhiên TP không ngồi tính market price cho từng loại asset mà thu thập số liệu đó từ các nguồn khác nhau, nhưng những người tính toán các con số đó phải giả định một discount factor nào đó.

[Đào sâu thêm khía cạnh này có thể thấy phê phán của James Galbraith đi vào cốt lõi của lý thuyết general equilibrium. TP có thể "cãi" rằng miễn là GE tồn tại (và duy nhất) market price sẽ phản ánh tất cả các estimation cho discount factors của các bên tham gia thị trường, do vậy sẽ tiệm cận đến equilibrium return on capital. Nói cách khác return on capital là một con số độc lập với các biến động trên thị trường, miễn là thị trường có khuynh hướng quay về trạng thái equilibrium (roots inside the unit circle to be exact, anyone? :-)), sử dụng market price để tính aggregate capital không bị mâu thuẫn như Galbraith chỉ ra.]



Tuesday, April 22, 2014

Chocolate


Trong dịp Easter vừa rồi Felix Salmon tweet đồ thị sau về mối quan hệ giữa số lượng tiêu thụ chocolate bình quân đầu người của một quốc gia với số giải Nobel (trong 10 triệu dân) mà quốc gia đó đạt được:



Thoạt nhìn tôi nghĩ đây là một đồ thị marketing của các hãng sản xuất chocolate đang tồn hàng Easter, nhưng hóa ra theo Business Insider đây là kết quả của một bài nghiên cứu nghiêm túc đăng trên tạp chí New England Journal of Medicine, có lẽ là một trong những tạp chí hàng đầu về y khoa trên thế giới. Business Insider còn tìm được link của bản pdf miễn phí của bài nghiên cứu này và tôi không thể không đọc thử xem tác giả đã làm thế nào.

Hóa ra bài nghiên cứu vô cùng đơn giản. Tác giả download số liệu Nobel laureates per capita từ Wikipedia (bao gồm cả giải Nobel hòa bình) và số liệu chocolate consumption per capita từ website của một số công ty sản xuất chocolate rồi chạy linear regression. Kết quả là correlation của hai biến số này rất cao (có thể thấy qua đồ thị trên) và highly significant. Tác giả cho rằng (dù rào trước đón sau rất nhiều) ăn nhiều chocolate sẽ làm tăng cognitive function vì chocolate có chứa nhiều chất flavonoids, do vậy làm tăng khả năng được giải Nobel.

Bất kỳ ai đã từng học qua một khóa econometrics sẽ thấy nghiên cứu này có nhiều vấn đề. Thứ nhất như chính tác giả đã thừa nhận correlation không phải causation, nhiều khả năng số giải Nobel và lượng chocolate consumption đều cùng do một yếu tố thứ ba quyết định, dễ thấy nhất là kinh tế (vd GDP per capita). Những yếu tố khác có thể ảnh hưởng lên số Nobel prize đáng ra tác giả phải control có thể là tỷ lệ đầu tư cho giáo dục, nghiên cứu, số lượng sinh viên đại học trên 1000 dân, số lượng bài báo khoa học hoặc patent, số lượng tiêu thụ các thực phẩm khác có hàm lượng flavonoids cao...

Thứ hai số lượng giải Nobel và chocolate consumption chắc chắn thay đổi theo thời gian. Ví dụ cụ thể là Thụy điển vài thập kỷ gần đây được rất ít giải Nobel so với khi giải này mới được thành lập. Bởi vậy sử dụng số liệu giải Nobel trong toàn bộ lịch sử (stock variable) so sánh với số lượng consumption của một năm (flow variable) đòi hỏi phải có một assumption là stock variable phân bổ đều theo thời gian còn flow variable không thay đổi, khó có thể đúng trên thực tế. Một người có cognitive function tốt (nên có khả năng được giải Nobel cao hơn) phải ăn nhiều chocolate lúc nhỏ, khi đi học, lúc làm nghiên cứu hay khi nào?

Thứ ba nếu ăn chocolate làm tăng cognitive ability thì một số kiểm chứng đơn giản hơn có thể thực hiện như chạy regression giữa lượng chocolate consumption với kết quả PISA, sẽ chính xác hơn so với số giải Nobel. Ngoài ra thay vì nghiên cứu "macro" như vậy tác giả có thể tiến hành nghiên cứu "micro", nghĩa là so sánh số lượng tiêu thụ chocolate của từng cá nhân được giải Nobel (hoặc những người có thành tực khoa học cao như các giáo sư đại học) so với mức tiêu thụ trung bình. Tất nhiên làm nghiên cứu micro như vậy sẽ tốn kém và mất thời gian hơn so với việc download data từ Internet và chạy linear regression, nhưng một bài báo trên NEJE phải như vậy mới xứng đáng chứ. Hay tạp chí này không thực sự tốt như tôi tưởng?


Thursday, April 10, 2014

Capital


Cuối cùng Paul Krugman đã viết xong bài review cho quyển "Capital in the 21st century" của Thomas Piketty. Trước đó The Economist cho rằng quyển sách này quan trọng như Das Kapital của Karl Marx, còn Krugman đánh giá: "This is a book that will change both the way we think about society and the way we do economics."

Tôi đã đọc gần chục bài review về quyển này (và đang đọc nguyên bản nhưng chưa biết khi nào xong vì quyển này gần 700 trang). Nhìn chung phe tả khen ngợi hết lời ngoại trừ James K. Galbraith, còn phe hữu thì coi đây như một lời kêu gọi "đấu tranh giai cấp" mới của thế kỷ 21. Thực ra phe hữa chưa có nhiều review, tôi cực kỳ trông đợi review hoặc ý kiến của Lucas và Ferguson (một số cái tên đáng trông đợi khác là Solow, Romer, Becker) . Nhắc đến Lucas tôi nhớ đến 2 câu trích dẫn rất nổi tiếng của ông (Krugman dẫn một câu trong bài review):

"Of the tendencies that are harmful to sound economics, the most seductive, and in my opinion the most poisonous, is to focus on questions of distribution.”



"Once one starts to think about them [economic growth], it is hard to think about anything else."

Có thể thấy Lucas là đại diện tiêu biểu cho trường phái conservative right-wing, tin rằng một khi kinh tế tăng trưởng tốt vấn đề inequality không đáng bận tâm. Thậm chí ở khía cạnh ngược lại, các cố gắng làm giảm inequality sẽ ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng và sẽ có hại cho xã hội trong dài hạn. Ngược lại với Lucas, Krugman và ngày càng nhiều left-wing economist cho rằng inequality quá cao không chỉ sai về mặt đạo đức mà còn ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.

Quay lại bài review, mặc dù Krugman khen hết lời nhưng có thể nói quyển này chưa thỏa mãn ông. Điểm quan trọng nhất mà Krugman cho rằng Piketty chưa đề cập đầy đủ là vai trò của income inequality hiện tại trong xã hội Mỹ. Piketty cho rằng vấn đề chính trong dài hạn là wealth/capital inequality, nếu xu hướng này tiếp diễn trong thế kỷ 21 thì xã hội phương Tây sẽ quay trở về thời thế kỷ 19 với một vài dòng họ giầu có kiểm soát và cai quản toàn bộ nền kinh tế. Để chống lại xu hướng này các nước cần gia tăng estate/wealth tax, nghĩa là thuế đánh vào của cải mà con cái được thừa hưởng từ bố mẹ.

Krugman đồng ý với nhận định đó nhưng cho rằng hiện tại vấn đề lớn nhất (với Mỹ) là kiểm soát income inequality vì phần lớn những người có thu nhập cực cao (trong giới tài chính và business CEO) không xứng đáng với đồng lương cao như vậy. Krugman trích dẫn một ý rất quan trọng của Piketty là vấn đề income cao hiện tại đã vượt ra ngoài khuôn khổ economic, nghĩa là những mức lương khủng của các CEO không phải do invisible hands xác định mà là social norm và politic thay đổi. Đánh thuế thật cao lên cả income lẫn capital gain là giải pháp mà Krugman cổ súy.

Một chi tiết thú vị khác mà Krugman chỉ ra là hiếm khi có nhà kinh tế nào như Piketty trích dẫn các tác giả văn học cổ điển trong một quyển sách kinh tế. Nhưng điều này có logic của nó vì thế kỷ 19 là thời điểm mà wealth inequality cực điểm nên vấn đề này được phản ánh nhiều trong văn học (e.g. Balzac). Hơn nữa số liệu thống kê thời đó rất hiếm, báo chí chưa phổ biến và được lưu trữ hệ thống như hiện nay nên văn học là một nguồn "bằng chứng" khả dĩ cho Piketty.

Chi tiết này làm tôi nhớ lại một một điều tương tự mà tôi đã để ý khi đọc văn học Nga hồi nhỏ. Trong nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết Nga có các nhà quí tộc sống bằng lợi tức từ một điền trang nào đó. Họ thường là sĩ quan, nhà thơ, họa sĩ, sinh viên sống ở các thành phố lớn (Moscow, St. Petersburg, Kazan...) nhưng thu nhập chủ yếu từ các estate mà họ thừa hưởng từ cha mẹ hoặc người thân. Hiện tượng này chắc phải rất phổ biến nên các nhà văn Nga mới đưa vào tác phẩm của họ thường xuyên như vậy.

Nhưng không chỉ có văn chương, Karl Marx với ý tưởng communism xuất hiện trong bối cảnh kinh tế xã hội như vậy và chắc chắn có không ít thinker có quan điểm giống Marx. Những gì xảy ra trong thế kỷ 20 có lẽ là hệ quả của hình thái xã hội với wealth inequality quá cao của thế kỷ 19. Thế kỷ 21 đang quay về lại thế kỷ 19, vậy thế kỷ 22 sẽ đầy bão táp như thế kỷ 20? Tôi nghĩ điểm khác biệt lớn nhất giữa 2 thế kỷ là sự phổ biến của thông tin dẫn đến "wisdom of the crowd" sẽ dẫn dắt xã hội chứ không phải một vài lãnh tụ với tài năng diễn thuyết như Lenin hay Hitler nữa.

Không kể thiên tai, những destruction lớn trong lịch sử nhân loại đều xuất phát từ một vài cá nhân hay government. Mặc dù thế giới hiện tại vẫn còn những Putin hay Kim Jong Un, tôi tin rằng vai trò của những "lãnh tụ" như vậy sẽ giảm dần trước Facebook, Twister và những hình thái trao đổi/kết nối thông tin khác trong tương lai. Với tôi việc tách rời các vấn đề kinh tế xã hội với information technology trong quyển sách của Piketty là một thiếu sót quan trọng (tôi đoán vậy thôi chứ chưa đọc hết).




Hướng dẫn đọc sách Capital in the 21st century

Tyler Cowen
pikettybot



Một số review: (Xem thêm list of review tổng hợp bởi Habermas & Rawls)

Vox: The short guide to Capital in the 21st Century
James K. Galbraith: Kapital for the Twenty-First Century?
FT: Save capitalism from the capitalists by taxing wealth
The New Yorker: FORCES OF DIVERGENCE
NYT: A Relentless Widening of Disparity in Wealth
Bruegel Blog: Blogs Review: Capital in the twenty-first century
Paul Krugman: Notes on Piketty
Paul Krugman: Piketty Day Notes
Paul Krugman: The Piketty Panic
The Economist: Reading "Capital"
JER: The return of patrimonial capitalism": review of Thomas Piketty's Capital in the 21st century
Guardian: Occupy was right: capitalism has failed the world
Guardian: Inequality hurts everyone apart from the super-rich - and here's why
NYT: Economist Receives Rock Star Treatment
NYT: Marx Rises Again
NYT: Taking On Adam Smith (and Karl Marx)
Chronicle: Capital Man
Tyler Cowen: Capital Punishment
Tyler Cowen: Why I am not persuaded by Thomas Piketty's argument
Bloomberg: The Most Important Book Ever Is All Wrong
The Economist: "Capital" and its discontents (phản hồi lại bài của Clive Crook trên Bloomberg)
Ryan Decker: Capital in partial equilibrium
National Review: The New Marxism
Rober Solow: Thomas Piketty Is Right - Everything you need to know about 'Capital in the Twenty-First Century'
Guy Sorman: The Liberals' New Hero
Nguyễn Vạn Phú: 1% sẽ ăn hết của 99%
Garett Jones: Living with Inequality
Mises.org: Peter Klein and Hunter Lewis
Foreign Policy: France Is Not Impressed With Thomas Piketty
Karl Icahn: Interview with Business Insider
New Republic: Thomas Piketty Is Pulling Your Leg
Mervyn King: Capital in the 21 century by Thomas Piketty, Review
Project Syndicate: Rogoff, DeLong, Shiller, Rodrik
Larry Summers: The Inequality Puzzle
Chris Giles (FT): Piketty findings undercut by errors
Chris Giles (blog): Data problems with Capital in 21 century (Piketty's response)
Tyler Cowen: What do the Piketty data problems really mean?
James Hamilton: Criticisms of Piketty
Paul Krugman: Is Piketty All Wrong?
The Economist: The Piketty Problem?
James Galbraith: 'Unpacking the First Fundamental Law'
Brad DeLong: Mr. Piketty and the "Neoclassicists": A Suggested Interpretation
Evan Davis (The Spectator): Has Thomas Piketty met his match?




Phỏng vấn

Juncture Interview
New Republic
Salon.com
Piketty/Krugman/Stiglitz/Durlauf




Thomas Piketty's materials

Notes của Piketty về các mô hình capital accumulation
Số liệu sử dụng trong Capital in 21 century (Quandl.com cũng có một chuyên trang về bộ số liệu này)






Monday, March 31, 2014

Wage growth



[Warning: bài này khá wonkish và có nhiều từ tiếng Anh, ai dị ứng với cách viết này không nên đọc tiếp. Sorry.]


Mấy hôm trước tôi có hai notes trên G+ (1, 2) về số liệu tăng trưởng nominal wage của VN trích dẫn trong một nghiên cứu của giáo sư Kenichi Ohno. Tôi nghi ngờ con số tăng trưởng 25.9%/năm trong giai đoạn 2009-2012 phản ánh đúng thực tế thị trường lao động VN mặc dù có vẻ con số này có nguồn từ ILO. Bên cạnh cảm nhận chủ quan của tôi về tốc độ tăng lương của VN trong giai đoạn đó, dưới đây tôi sẽ nói thêm một số cơ sở lý thuyết (macro) của các yếu tố tác động đến tăng trưởng tiền lương.

Trong kinh tế học tiền lương (wage) và thị trường lao động nói chung (labor market) được nghiên cứu chủ yếu trên khía cạnh micro, vd search theory, efficiency wage, minimum wage, mặc dù ứng dụng của những nghiên cứu đó lại chủ yếu trong macro. Có lẽ mô hình nổi tiếng nhất về labor market trong macro là Phillips curve, nhưng đây lại là mô hình static - nghĩa là chỉ quan tâm đến quan hệ giữa (un)employment và inflation/output ở một thời điểm nhất định (equilibrium) nên không giải thích được tốc độ tăng trưởng của lương bổng (wage growth) theo thời gian. Trên thực tế vấn đề wage growth trong macro chỉ là hệ quả gián tiếp của các mô hình dynamic về business cycle như RBC hay New Keynesian, hoặc môt số mô hình liên quan đến tăng trưởng kinh tế (economic growth).

Đến nay hiểu biết của các nhà kinh tế (macro) về wage growth khá đơn giản. Trong dài hạn real wage growth phải bằng real (labor) productivity growth, nghĩa là nếu một nền kinh tế có real productivity tăng 2%/năm thì real wage growth cũng phải có tốc độ tăng trưởng xấp xỉ như vậy. Real productivity growth có 2 nguồn động lực chính: capital accumulation/investment và technological improvement. Khi nền kinh tế tích tụ (physical) capital thì marginal product of labor sẽ tăng do đó output per worker sẽ tăng. Tương tự như vậy dù capital không tăng nhưng chất lương máy móc, thiết bị, cơ sở hạ tầng tăng (technological progress) thì output per worker cũng tăng. Human capital (bao gồm cả management skills) có thể xếp vào 1 trong 2 yếu tố trên.

Nếu nền kinh tế có lạm phát, nominal wage growth sẽ bằng real wage growth cộng thêm tốc độ lạm phát. Nhiều người nói về wage-price spiral hàm ý rằng nominal wage growth và inflation rate có thể tạo thành một feedback loop, lạm phát cao dẫn đến nominal wage phải tăng rồi wage tăng quay lại làm tăng lạm phát. Tuy nhiên trong lý thuyết macro đây chỉ là kênh truyền dẫn chứ không phải nguyên nhân gốc dẫn đến lạm phát hay nominal wage growth. Đằng sau nó phải là monetary policy hoặc các thể loại external shocks.

Đó là về dài hạn, trong ngắn hạn wage growth có thể thay đổi tuỳ thuộc và demand-supply trên thị trường lao động. Khi nền kinh tế phát triển nóng nhu cầu thuê mướn nhân công tăng cao trong khi unemployment thấp sẽ làm nominal wage growth tăng nhanh hơn inflation + productivity growth. Ngược lại khi nền kinh tế bị suy thoái nominal wage growth sẽ tăng chậm lại hoặc thậm chí không tăng vì doanh nghiệp thu hẹp sản xuất và cắt giảm lao động. Đa số các nhà kinh tế tin rằng nominal wage growth không đối xứng trong một chu kỳ kinh tế, nghĩa là lương bổng tăng nhanh trong giai đoạn booming nhưng ít khi giảm trong các giai đoạn recession. Hiện tượng này gọi là nominal wage downward rigidity, được giải thích bởi tâm lý của người lao động khó chấp nhận bị cắt lương và sự tồn tại của các tổ chức công đoàn và luật lương tối thiẻu. Đây là lý do mà nhiều nhà kinh tế cho rằng một mức lạm phát thấp và ổn định có lợi cho nền kinh tế chứ không phải zero inflation mới tốt.

Quay lại trường hợp nominal wage growth của VN trong giai đoạn 2009-2012, xét cả yếu tố dài hạn lẫn ngắn hạn tôi không thấy có lý do để tin vào con số 25.9%/năm. Mặc dù đây là giai đoạn có inflation cao, trung bình 12.1%/năm, productivity của VN tăng khá chậm chỉ quanh quẩn 3%. Như vậy nếu nominal wage growth phản ánh mối quan hệ dài hạn thì tốc độ tăng trưởng cũng chỉ xấp xỉ 15-16%/năm. Hơn nữa tôi tin là các yếu tố ngắn hạn trong giai đoạn này không có lợi cho wage growth vì nền kinh tế đang trên đà đi xuống, labor demand chắc chắn không cao để đến mức các doanh nghiệp phải tăng lương đồng loạt. Tôi không rõ tốc độ tăng lương tối thiểu trong giai đoạn này thế nào, nhưng nếu nó không quá cao so với tốc độ lạm phát thì đó cũng không phải nguyên nhân. Hơn nữa số lao động được hưởng lợi trực tiếp từ minimum wage chỉ là một phần nhỏ trong nền kinh tế. Số liệu của TCTK về lương bổng trong khu vực kinh tế nhà nước cũng phản ánh điều này, nominal wage growth chỉ nhỉnh hơn inflation rate môt chút, còn real wage growth thấp hơn hẳn real productivity growth. Thật khó có thể tin được real wage growth của toàn bộ nền kinh tế cao hơn 10% trong hoàn cảnh như vậy.

Tất nhiên lập luận của tôi có thể sai, tuy nhiên nếu giáo sư Ohno và/hoặc ILO không chỉ ra được lý do làm cho nominal/real wage của VN tăng trưởng cao như vậy trong giai đoạn 2009-2012 thì tôi vẫn giữ nguyên nghi ngờ của mình.


Wednesday, March 5, 2014

Kiva


Tôi đã từng nghe nói đến Kiva môt vài lần nhưng không để ý lắm cho đến khi đọc được bài báo này trên Business Insider. Bài báo cho biết công ty HP vừa cho mỗi nhân viên $25 để họ làm từ thiện bằng cách cho vay thông qua Kiva. Vào tìm hiểu kỹ hơn về tổ chức này mới vỡ lẽ mô hình hoạt động rất hay của họ.

Kiva cổ suý cho micro-finance ở các nước nghèo bằng cách lập ra một website để những nhà hảo tâm ở các nước phát triển (hoặc bất kỳ đâu trên thế giới) có thể góp một khoản tiền nhỏ cho các dự án micro-finance. Ở mỗi nước đang phát triển Kiva xây dựng một mạng lưới local partner, thường là các NGO và các tổ chức xã hội khác có kinh nghiệm trong lĩnh vực micro-finance. Mỗi khi một partner tìm được một dự án cần vay tiền, họ sẽ giúp chủ dự án - thường là những người dân nghèo cần một khoản tiền nhỏ để đầu tư sản xuất/kinh doanh - viết và giới thiệu dự án lên website Kiva. Các nhà hảo tâm, là registered user trên website Kiva, có thể xem danh sách các dự án đang cần vay tiền rồi chọn ra dự án mà họ muốn giúp đỡ bằng cách cho vay một khoản tiền nào đó, tối thiểu là $25. Kiva sẽ nhận tiền rồi chuyển cho local partner để họ giải ngân, theo dõi dự án và thu hồi vốn khi khoản vay đáo hạn. Sau đó các nhà hảo tâm có thể rút vốn của họ ra nhưng đa số lại tiếp tục cho các dự án khác vay.

Hiện tại Kiva có 1.6 triệu user (nhà hảo tâm) và đã cho vay hơn 536 triệu USD, trung bình 415 USD một khoản vay. Tỷ lệ hoàn vốn 98.97%, nghĩa là "nợ xấu" của hệ thống microfinance này chỉ là 1.03%, thấp hơn nhiều tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng VN. Kiva đã có mạng lưới 242 local partner ở 73 quốc gia, trong đó có VN (6 partner). Ở thời điểm hiện tại (5/3/2014) có tổng cộng 3914 dự án đang chờ được cho vay, trong đó có 2 dự án từ VN. So với các nước có thể nói số dự án của VN khá thấp (Philippines có 647 dự án, Pakistan có 119, Cambodia 25). Như vậy có lẽ Kiva chưa được các NGO liên quan đến micro-finance ở VN quan tâm và bản thân Kiva cũng chưa được nhiều người VN biết đến. Số người VN tham gia cho vay có lẽ cũng khá khiêm tốn,  nhìn số user đã cho vay trong 2 dự án của VN thấy rất ít tên người Việt (có một chị có nickname là phuong60 đã cho vay 538 dự án). Khi login vào Kiva bằng Facebook account tôi chỉ mới thấy có Quoc-Anh Do và Anh Gau Pham trong số Facebook friends của tôi đã là registered user.

Rất mong các tổ chức thiện nguyện và NGO ở VN quan tâm hơn đến Kiva, đăng ký làm local partner với tổ chức này để có thêm cơ hội giúp người nghèo VN vay tiền. Cũng rất mong các bạn có điều kiện ở cả nước ngoài lẫn trong nước tham gia cho vay dù chỉ với một số tiền nhỏ. Với tỷ lệ hoàn vốn rất cao của Kiva số tiền của các bạn sẽ được quay vòng nhiều lần, giúp cho nhiều đồng bào khó khăn của chúng ta có môt chút vốn khởi nghiệp.


Note: Bạn nào muốn đăng ký làm user của Kiva để cho vay có thể vào trực tiếp website của tổ chức này hoặc click vào: http://www.kiva.org/invitedby/giang5498. Đây là link mời tham gia của tôi, nếu bạn đăng ký qua link này tôi sẽ được một tổ chức từ thiện thông qua Kiva bonus cho $25 credit để tiếp tục cho vay. Cám ơn các bạn.


Friday, February 28, 2014

Bitcoin regulation


Hôm qua chủ tịch Fed Janet Yellen trả lời chất vấn ở QH Mỹ đã nói Fed không có thẩm quyền để giám sát hoặc quản lý bitcoin. Lý do là luật Mỹ (Federal Reserve Act) giới hạn quyền của Fed chỉ được giám sát hệ thống ngân hàng trong khi bitcoin được giao dịch bên ngoài hệ thống này. Cũng trong hôm qua NHNN ra "Thông cáo báo chí về bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác" (link đến file .doc). Đọc bản thông cáo báo chí này, mặc dù có một số điểm tôi không hoàn toàn đồng ý (sẽ nói thêm bên dưới), có thể nói NHNN đã làm đúng chức năng và không vượt quá jurisdiction của mình tương tự như Yellen/Fed đã hành xử. Đây là điểm rất đáng khen của NHNN.

Một thông cáo báo chí của cơ quan quản lý nhà nước chỉ nêu ra quan điểm hoặc cung cấp số liệu, thông tin, sự kiện cho dân chúng biết, nó không phải là văn bản pháp luật liên quan đến chức năng, quyền hạn của cơ quan đó. Quan điểm của NHNN hay bất kỳ cơ quan nhà nước nào khác có thể đúng, có thể sai, báo chí và các chuyên gia có thể thảo luận, phản bác. Thậm chí những đối tượng bình thường chịu sự quản lý của NHNN (trong trường hợp này là các NHTM) có thể không thực hiện những khuyến cáo trong thông cáo báo chí cho đến khi có văn bản (dưới luật) chính thức được ban hành.

Tôi nghĩ NHNN hiểu rất rõ điều này nên đã viết "Về việc sử dụng bitcoin như là một loại tiền tệ hoặc phương tiện thanh toán, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có ý kiến như sau:..." (tôi nhấn mạnh). Rất tiếc báo chí khi đưa tin về thông cáo này không hiểu rõ điểm này nên có những title như "Việt Nam nói không với tiền ảo" hay "Việt Nam không chấp nhận tiền Bitcoin", hoặc nhẹ nhàng hơn như "Ngân hàng Nhà nước cảnh báo tiền ảo Bitcoin không hợp pháp" hay "Ngân hàng Nhà nước cảnh báo về tiền ảo Bitcoin". Cho dù ý kiến của NHNN là bitcoin không phải là đồng tiền và phương tiện thanh toán hợp pháp ở VN, đó mới chỉ là ý kiến chứ chưa phải qui định quản lý chính thức.

Vậy tại sao NHNN mới chỉ ra thông cáo báo chí chứ chưa đưa ra văn bản quản lý chính thức (thông tư, quyết định)? Có thể vì NHNN chưa có thời gian để tìm hiểu kỹ về bitcoin, có thể họ còn muốn quan sát xem các nước khác quản lý thế nào, có thể họ nghĩ không lâu nữa bitcoin sẽ chết nên chẳng việc gì phải mất công ra văn bản. Tôi nghĩ NHNN chưa thực sự hiểu về bitcoin vì cả 4 rủi ro/tác hại mà phần đầu của bản thông cáo đưa ra đều có vấn đề.

Thứ nhất, đúng là bitcoin có tính ẩn danh cao và đã trở thành công cụ cho giới tội phạm, nhưng đó không phải là rủi ro cho người sử dụng mà là khó khăn cho cơ quan quản lý. Về mặt ẩn danh tiền mặt (cash) cao hơn bitcoin, giới tội phạm từ trước đến nay sử dụng tiền mặt không hề ít nhưng đó không phải rủi ro cho người sử dụng và cũng không vì tính ẩn danh mà phải cấm sử dụng tiền mặt. Một điểm quan trọng mà bản thông cáo báo chí này không đưa ra/phân tích là liệu bitcoin có lợi ích gì cho người sử dụng bình thường hay không. Nếu chỉ có một lượng giao dịch nhỏ bitcoin cho các hoạt động phạm pháp trong khi lợi ích cho các hoạt động hợp pháp khác lớn thì có thể benefit của hệ thống bitcoin sẽ vượt cost và nên khuyến khích sử dụng đồng tiền này.

Thứ hai, đúng là bitcoin có rủi ro sẽ bị tấn công, đánh cắp và thất thoát trên thế giới ảo, nhưng rủi ro này có thực sự "rất lớn" hay không? So với rủi ro tiền mặt bị trộm cướp, thẻ tín dụng bị làm giả, tiền gửi ngân hàng bị "Huyền Như" thì rủi ro bitcoin bị mất lớn hơn bao nhiêu lần? Rủi ro đó có đến mức làm benefit của bitcoin giảm thấp hơn cost hay không? Ngay cả nếu rủi ro đó hiện tại khá lớn nhưng sự tiến bộ công nghệ trong thời gian tới có thể giảm rủi ro đó xuống hay không? Mt.Gox đóng cửa không khác gì một ngân hàng phá sản. Nếu có một hệ thống deposit insurance cho bitcoin thì tác động của một vụ đóng cửa như vậy sẽ được giảm thiểu.

Thứ ba, giá trị của bitcoin biến động mạnh và phức tạp đúng là rủi ro cho nhà đầu tư, nhưng bất kỳ loại hình đầu tư nào cũng có rủi ro, nhà đầu tư chấp nhận rủi ro thì họ tham gia. Đầu tư vào cổ phiếu ở VN cũng đầy rủi ro nhưng như vậy không có nghĩa nhà đầu tư không nên tham gia. Vấn đề là họ có hiểu rõ rủi ro đó hay không, điều này liên quan đến transparency/disclosure, và thị trường có công cụ để hedge rủi ro nếu họ cần tránh hay không. Bitcoin mới ra đời chưa lâu và còn trong giai đoạn định hình, có thể nó sẽ chết trong tương lai nhưng cũng có thể nó sẽ ổn định và phát triển thành một công cụ thanh toán có uy tín. Lúc đó có thể rủi ro của bitcoin sẽ không khác mấy rủi ro của một đồng tiền chính thức.

Thứ tư, đúng ra bitcoin "chưa" bị chi phối và kiểm soát bởi các cơ quan quản lý nhà nước và quốc tế, nhưng không có nghĩa là không bao giờ. Ngay cả hiện tại chưa có ai quản lý bitcoin, các giao dịch sử dụng bitcoin, và các dịch vụ liên quan đến nó, điều đó không có nghĩa người sở hữu bitcoin sẽ chịu toàn bộ rủi ro vì không có cơ chế bảo vệ quyền lợi. Tôi không rõ NHNN có văn bản nào thừa nhận việc thanh toán qua Paypal hay không nhưng các bên giao dịch bằng Paypal trên lãnh thổ VN hoàn toàn có quyền kiện nhau ra tòa kinh tế nếu có tranh chấp. Quyền lợi của họ được bảo hộ bằng các bộ luật kinh tế/dân sự khác. Việc bộ Tư pháp Nhật và Mỹ điều tra Mt.Gox là bằng chứng cho thấy cơ quan bảo vệ pháp luật vẫn có trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng cho dù bitcoin chưa được Fed hay BoJ quản lý.

Ở đây tôi xin nói rõ thêm một điểm về tính hợp pháp của một đồng tiền và tính hợp pháp của phương tiện thanh toán. Mỗi quốc gia chỉ có duy nhất một đồng tiền hợp pháp (legal tender), trừ một số trường hợp đặc biệt. Tính hợp pháp của đồng tiền quốc gia nằm ở chỗ nó phải được chấp nhận bắt buộc là phương tiện thanh toán cho các giao dịch kinh tế, nghĩa là nếu bạn mua hàng và trả bằng VND thì người bán trên lãnh thổ VN không có quyền từ chối nhận thanh toán bằng đồng tiền đó. Lưu ý rằng tính hợp pháp của đồng tiền không phải là điều kiện để giao dịch kinh tế được pháp luật bảo hộ. Một giao dịch bất hợp pháp bằng đồng tiền quốc gia vẫn có thể bị tòa không công nhận, ví dụ mua bán nội tạng không được công nhận ở hầu hết các nước trên thế giới và tòa sẽ không xử những vụ tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán nội tạng trừ khi có dấu hiệu hình sự.

Tính hợp pháp của một đồng tiền đồng nghĩa với nó là phương tiện thanh toán hợp pháp. Nhưng một quốc gia có thể có nhiều phương tiện thanh toán hợp pháp khác ngoài đồng tiền chính thức của quốc gia đó. Ví dụ có thể sử dụng ngoại tệ, vàng làm phương tiện thanh toán, hay có thể sử dụng hàng hóa và dịch vụ cho mục đích thanh toán (hàng đổi hàng). Trên thực tế bank credit có thể coi là một loại tiền tệ bán chính thức đồng thời là phương tiện thanh toán hợp pháp ở tất cả các nước. Khi bạn sử dụng credit card thanh toán cho một món hàng, ngân hàng tạo ra một phương tiện thanh toán hợp pháp cho bạn, nhưng đó không phải là đồng tiền hợp pháp. Người bán có quyền từ chối không nhận thanh toán bằng credit card hoặc không chấp nhận một số loại card và họ không hề phạm pháp.

Với đồng bitcoin hiển nhiên nó không là đồng tiền hợp pháp ở bất kỳ quốc gia nào vì nó không được một chính phủ nào tạo ra. Điều này không cần central bank đứng ra tuyên bố. Với nhiều nước ngay cả tính hợp pháp của phương tiện thanh toán cũng không nằm trong thẩm quyển của central bank, như trường hợp US Federal Reserve System tôi đã trích dẫn bên trên. Chỉ khi nào ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác sử dụng đồng tiền này làm phương tiện thanh toán thì Fed mới có quyền can thiệp. Bên ngoài hệ thống ngân hàng bitcoin được coi như một loại tài sản bình thường và được tồn tại cho đến khi  có luật cấm cụ thể (nếu có). Hầu hết các quốc gia đã tuyên bố quan điểm về bitcoin được liệt kê trong entry này của Wikipedia đều không cấm việc sở hữu, trao đổi bitcoin như một phương tiện thanh toán cá nhân, họ chỉ cảnh báo rủi ro cho người sử dụng tương tự như trong thông cáo báo chí của NHNN VN. Trường hợp duy nhất có văn bản cấm chính thức là PBoC (TQ) không cho phép các ngân hàng thanh toán bằng bitcoin. Nếu NHNN ra thông tư cấm các tổ chức tín dụng không được sử dụng bitcoin như đã tuyên bố trong thông cáo báo chí thì VN sẽ là nước thứ hai chính thức cấm. Thailand có một giai đoạn cấm nhưng đã bỏ lệnh này.

Tóm lại việc NHNN ra thông cáo báo chí nêu rõ quan điểm của mình về bitcoin và cảnh báo các rủi ro cho nhà đầu tư là một việc làm đúng đắn, cẩn trọng. Cá nhân tôi khuyến cáo NHNN chưa nên ra văn bản chính thức cấm hay cho phép giao dịch bitcoin trong hệ thống ngân hàng. Cần chờ thêm một thời gian nữa theo dõi sự phát triển của thị trường này và các chính sách regulation của các nước khác. Gần đây Nhật đã kêu gọi hợp tác quốc tế về việc quản lý bitcoin, bang New York của Mỹ cũng đang soạn thảo một số qui chế kiểm soát các tổ chức có hoạt động liên quan đến bitcoin. Trước mắt NHNN nên tìm cách thu thập số liệu về các hoạt động liên quan đến bitcoin trên lãnh thổ VN, tư vấn cho các cơ quan tư pháp và QH về các vấn đề hay tranh chấp liên quan đến đồng tiền này. Tôi hi vọng đến một ngày nào đó bitcoin hoặc một cryptocurrency khác sẽ trở thành một phương tiện thanh toán hợp pháp và phổ biến ở VN và trên thế giới.



Wednesday, February 26, 2014

Bitcoin inequality


Mấy hôm nay báo chí và thế giới mạng xôn xao về vụ Mt.Gox đóng cửa (có thể vì lý do một lượng lớn BTC bị hack) nên không mấy ai để ý đến một thông tin khác rất thú vị liên quan đến BTC. Theo thống kê từ Bitcoin Forum, đây là distribution lượng BTC đang được lưu hành trong nền kinh tế bitcoin ở 3 thời điểm khác nhau:



Các nhà kinh tế khi có trong tay một bộ số liệu income distribution (trong trường hợp này là wealth distribution) thường sẽ nghĩ ngay đến việc tính Gini coefficient để xem mức độ bất bình đẳng về thu nhập hay của cải trong một xã hội thế nào. Những ai chưa biết về Gini coefficient có thể tham khảo bài viết về chỉ số này rất chi tiết trên Wikipedia. Có thể tóm tắt ngắn gọn lại là vẽ cumulative income/wealth distribution trên một ô vuông có trục tung (biểu diễn income/wealth) và trục hoành (dân số) từ 0 đến 100%. Đồ thị này gọi là Lorenz curve (xem bên dưới). Gini coefficient là tỷ lệ diện tích phần A chia cho tổng A và B. Nếu Gini bằng 0 thì mọi thành viên trong xã hội có income/wealth bằng nhau, ngược lại nếu Gini bằng 100% thì tất cả income/wealth rơi vào tay một cá nhân. Gini tính theo income có giá trị dao động trong khoảng 25-60% (tham khảo bẳng này), tính theo wealth trong khoảng 60-85% (bảng này).



Vậy nền kinh tế Bitcoin có Lorenz curve và Gini coefficient như thế nào? Lưu ý ở đây tôi chỉ tính được Gini theo wealth distribution và giả định rằng trong 2 bracket cuối cùng mỗi người sở hữu số BTC ở giữa của backet đó. Ví dụ với bracket 0.01-0.1 tôi giả định mỗi người sở hữu 0.05 BTC. Diện tích phần B được tính gần đúng bằng cách lấy wealth trung bình của 2 bracket kế nhau nhân với tỷ lệ số người trong bracket đó. Dưới đây là Lorenze curve cho bộ số liệu cuối cùng (27/1/2014):



Có thể thấy ngay nền kinh tế này rất bất bình đẳng so với các nền kinh tế thực, một số nhỏ holder nắm phần lớn của cải (BTC) của nền kinh tế Bitcoin. Gini cho 3 thời điểm lần lượt là 97.3% (27/1/2014), 97.1% (3/12/2013), 93.5% (26/10/2013). Có một số lý do giải thích cho hiện tượng bất bình đẳng về wealth rất lớn này. Thứ nhất, những người đầu tiên tham gia vào hệ thống có thể mine BTC rất dễ và rất rẻ nên đã tích lũy được nhiều BTC từ thời đó. Người sở hữu số BTC lớn nhất chính là Satoshi Nakamoto với gần 1 triệu BTC (có thời điểm có giá trị hơn 1 tỷ USD). Thứ hai, một holder trong hệ thống bitcoin có thể không phải là một cá nhân mà là một tổ chức, có thể coi như một công ty hay ngân hàng trong nền kinh tế thực.

Lý do thứ ba gần với các nền kinh tế thực hơn và cũng đã được các nhà kinh tế thảo luận khá nhiều gần đây. Nền kinh tế bitcoin có hai đặc điểm dễ thấy là capital intensive và technological innovation. Để mine BTC hiện tại bạn phải cần rất nhiều vốn đầu tư vào hardware, trên thực tế tỷ lệ labor/capital của hoạt động mining gần như bằng không. Với các dịch vụ hỗ trợ như exchange hay wallet/bank có thể cần một số nhân viên giao dịch và IT staff, nhưng tỷ lệ labor/capital cũng không thể so được với traditional banking hay manufacturing/agriculture. Một nền kinh tế có tỷ lệ income trả cho capital owner nhiều sẽ càng ngày càng bất bình đẳng. Đây là thực tế xảy ra ở Mỹ trong giai đoạn 1970-2010.

[Update: Bạn Trung Bui trích dẫn một bài viết của Martin Feldstein (xem comment của Duy Linh bên dưới) cho rằng labor/capital income share của Mỹ rất stable trong giai đoạn 1970-2006. Bài này của Feldstein đã bị chỉ trích khá nhiều (vd Olivier Giovannoni) và cũng dễ hiểu vì Feldstein có khuynh hướng right wing. Tuy nhiên đến nay hầu hết các nhà kinh tế đều đồng ý rằng labor share của Mỹ đã giảm trong mấy thập kỷ qua, có thể tham khảo bài này của Brooking hay bài này trên QJE. Bạn chỉ cần search Google hoặc Google Scholar sẽ có rất nhiều bài viết về "declining labor share". Nhưng có lẽ nghiên cứu chi tiết nhất và được đánh giá rất cao là quyển “Capital in the Twenty-First Century” của Thomas Piketty (đọc review của The Economist ở đây). Quyển sách này đưa ra bằng chứng và giải thích sự gia tăng của capital share/sụt giảm labor share ở hầu hết các nước phát triển. Piketty cũng chỉ ra khả năng Kuznets curve không đúng như tôi viết bên dưới. Giống như "Why Nations Fail" quyển này cũng được giới kinh tế bàn tán rất nhiều, hi vọng sẽ được dịch ra tiếng Việt.]


Đặc điểm thứ hai của nền kinh tế bitcoin (technological innovation) cũng rất giống nền kinh tế thực. Từ trước vụ Facebook mua lại Whatsapp khá lâu nhiều người đã chỉ ra rằng sự thành công của một số nhỏ startup là một nguyên nhân quan trọng làm gia tăng khoảng cách income của Mỹ. Những người sáng tạo ra một innovation được xã hội chấp nhận (và một vài early adaptor như trường hợp BTC đã nói bên trên) sẽ được hưởng một phần rất lớn lợi ích kinh tế của innovation đó. Những innovator thành công này sau đó sẽ trở thành capital owner tiếp tục đầu tư vào các startup khác hoặc ngồi hưởng lợi tức từ phần capital của mình. Vòng xoáy này sẽ tiếp tục làm tăng inequality cả về income lẫn wealth.

Tóm lại tôi không bất ngờ khi thấy Gini coefficient của nền kinh tế bitcoin cao như vậy. VN với một nền kinh tế labor intensive và rất ít đột phá công nghệ nên có Gini tương đối thấp (35.6% cho income và 68.2% cho wealth). Trước đây các nhà kinh tế tin vào Kuznets curve, nghĩa là qui luật quan hệ giữa inequality và income per capita có hình chữ U ngược. Nhưng một số nghiên cứu gần đây cho thấy rất có thể quan hệ này không có cực đại (là đỉnh của chữ U lộn ngược) mà sẽ tăng liên tục, tất nhiên trừ khi có can thiệp của nhà nước (income transfer thông qua thuế). Nền kinh tế bitcoin được cho là thiên đường của chủ nghĩa libertarianism vì tránh được các can thiệp nhà nước, như vậy nhiều khả năng inequality trong nền kinh tế này sẽ tiếp tục tăng trong tương lai.


Update (25/2): Bạn Duy Linh có một quan sát rất thú vị về thu nhập của các ca sĩ so với các kịch sĩ. Để giải thích hiện tượng này tôi trích lại comment của bạn Nguyen Tung Son (post bên G+):

"Về bất bình đẳng thu nhập thì em thấy những lĩnh vực nào có MC bé thì MR=MC nên P sẽ nhỏ. Do đó giá cả không còn là yếu tố quyết định sự lựa chọn của khách hàng mà yếu tố chất lượng đóng vai trò chính. Lúc này một sản phẩm chỉ cần hơn các sản phẩm khác một tý cũng đủ để chiếm thế thượng phong. Và đặc biệt những sản phẩm mà có chi phí vận chuyển/phân phối nhỏ thì sản phẩm dù chỉ tốt hơn một tý cũng có khả năng thống lĩnh thị trường. Ví dụ các sản phẩm phần mềm, và đặc biệt là các dịch vụ internet. Do đó 2 người có tài năng chỉ nhỉnh hơn nhau tý thôi nhưng thu nhập thì có thể khác nhau rất nhiều."

Lập luận MC (marginal cost) thấp của bạn Nguyen Tung Son rất phù hơp cho trường hợp ca sĩ vs kịch sĩ vì những lý do kỹ thuật mà bạn Duy Linh đã chỉ ra. Thêm một khán giả trong một show ca nhạc hay bán thêm một cái đĩa CD có MC nhỏ hơn nhiều so với thêm một khán giả xem một vở kịch. Khi MC thấp (bao gồm cả chi phí vận chuyển) sản phẩm có thể sẽ có thị trường rất lớn vì nhà sản xuất (vd Đàm Vĩnh Hưng, Nguyễn Hà Đông, Nguyễn Quang Lập...) có thể bán với giá rất rẻ như bạn Nguyen Tung Son đã nói hoặc họ có thể dùng lợi nhuận để PR/marketing cho sản phẩm của mình, từ đây xây dựng user/customer base để tạo network effect như bạn Duy Linh nói. Ở đây chất lượng vượt trội có ý nghĩa quan trọng để nhà sản xuất có thể chiếm được mass market, nhưng còn một yếu tố rất quan trọng nữa cần phải có (thực ra là 2, yếu tô thứ hai là may mắn).

Đó là platform để nhà sản xuất có thể monetize được sản phẩm. Platform ở đây có thể là công nghệ, vd iTunes store và thị trường smartphone, có thể là luật pháp như intellectual property right law, hay có thể là một tầng lớp bầu sô/manager/supporting team có năng lực/thực lực. Tất nhiên vai trò của platform cũng rất quan trọng cho non-celebrity producer, nhưng chọn được right platform có ý nghĩa rất quan trọng để một producer trở thành superstar, bên cạnh tài năng của chính anh/chị ta. The Economist cách đây không lâu có một bài viết cực hay về khái niệm platform, highly recommended.



Thursday, February 13, 2014

Big Mac Index


1.
Đầu tháng 2/2014 cái tên Vietnam xuất hiện rất nhiều trên báo chí quốc tế nhờ vào ... Flappy Bird và McDonald's. Trái với Flappy Bird đến và đi rất nhanh, franchise McDonald's đầu tiên của VN đã phải mất gần mười năm mới mở cửa được và chắc sẽ ở lại mảnh đất này lâu dài. Nếu Thomas Friedman đúng, sự hiện diện của McDonald's biết đâu sẽ giúp VN tránh được đụng độ quân sự với anh láng giềng phương Bắc trong những năm tới(*). Trước mắt sự hiện diện của McDonald's đã giúp cho VN lọt vào danh sách thành viên của Big Mac Index (BMI) của tạp chí The Economist. Mặc dù ý nghĩa kinh tế và học thuật của BMI không đáng kể (ý tưởng BMI có nguồn gốc từ một lời nói đùa), việc VN được một tạp chí kinh tế tài chính hàng đầu thế giới quan tâm là một tín hiệu đáng mừng (**).

(*) Trong quyển The Lexus and the Olive Tree năm 1999, Thomas Friedman đã đưa ra một giả thuyết gọi là "Golden Arches Theory of Conflict Prevention", theo đó 2 quốc gia cùng có sự hiện diện của McDonald's sẽ không gây chiến với nhau. Mặc dù đã có một vài ngoại lệ, thuyết này cho đến nay về cơ bản khá chính xác.

(**): Hiện tại McDonald's đã có mặt ở 122 quốc gia, tuy nhiên BMI chỉ bao gồm 44 quốc gia và vùng lãnh thổ (thực tế là 55 quốc gia nhưng 12 nước trong EMU đã được gộp chung lại trong một chuỗi index sau khi đồng Euro ra đời).


2.
Khi nói về BMI người ta thường đề cập đến khái niệm Purchasing Power Parity (PPP), ở đây tôi sẽ giải thích kỹ hơn về khái niệm này để tránh nhầm lẫn (bạn nào không quan tâm đến học thuật có thể bỏ qua đoạn này). Trước hết cần phân biệt "lý thuyết" PPP do Gustav Cassel đưa ra năm 1918 với "tỷ giá" PPP do University of Pennsylvania đưa ra từ những năm 1960 và hiện được World Bank quản lý. Hai khái niệm này có cùng gốc gác nhưng hiện được sử dụng độc lập với nhau và rất dễ hiểu nhầm.

Gustav Cassel, nhà kinh tế người Thụy điển cùng thời với Keynes và Hayek, đưa ra ý tưởng xác định tỷ giá giữa 2 đồng tiền dựa vào một qui luật kinh tế khá lâu đời là "law of one price" (LOP), theo đó một loại hàng hóa nhất định sẽ chỉ có thể có một giá dù được mua bán ở các địa điểm khác nhau (nếu không arbitrage sẽ nhanh chóng xảy ra và giá sẽ được quân bình). Cassel cho rằng nếu chi phí vận tải không đáng kể và giữa 2 quốc gia không có hàng rào thuế quan thì LOP sẽ dẫn đến việc tỷ giá giữa hai đồng tiền của hai quốc gia đó phải ở mức đảm bảo giá của một mặt hàng giống nhau ở 2 bên biên giới phải như nhau dù niêm yết bằng đồng tiền nào cũng vậy.

Nói nôm na nếu một chiếc xe hơi ở Mỹ có giá 50000 USD còn ở VN giá 1 tỷ VND thì tỷ giá VNDUSD tuân theo lý thuyết PPP sẽ phải là 20000 VND/USD (giả sử chi phí chuyên chở và thuế quan không đáng kể). Điều này đảm bảo rằng sức mua của 50000 USD ở Mỹ hay ở VN đều như nhau, hay ngược lại sức mua của 1 tỷ VND ở đâu cũng vậy miễn là hai đồng tiền này được tự do chuyển đổi. Đó là lý do của tên gọi Purchasing Power Parity. Khi tỷ giá thực tế không đảm bảo LOP hoặc PPP, một đồng tiền sẽ bị cho là undervalued hoặc overvalued so với đồng tiền kia. Ví dụ nếu giá xe hơi ở Mỹ và VN vẫn giữ như trên nhưng tỷ giá thị trường là 21000 VND/USD thì VND bị cho là undervalued hay USD bị overvalued. Nói cách khác giá của chiếc xe đó ở VN nếu qui đổi sang USD sẽ là 47679 USD, rẻ hơn so với giá ở Mỹ nên LOP không còn đúng nữa và tỷ giá đã không tuân theo PPP.

Giới kinh tế học gọi lý thuyết PPP như trình bày bên trên là absolute PPP, nghĩa là PPP áp dụng cho mặt bằng giá (level) của các loại hàng hóa(#). Mặc dù lý thuyết này rất dễ hiểu và có vẻ chặt chẽ, không cần là chuyên gia kinh tế bạn cũng có thể chỉ ra hàng loạt lý do absolute PPP không thể đúng trên thực tế. Ai cũng có thể thấy giá (tính ra USD) của rất nhiều mặt hàng ở VN khác xa so với giá ở nước ngoài, từ xe hơi, đồ điện tử, cho đến thuốc uống, sữa trẻ em. Trong hàng chục năm qua các nhà kinh tế đã sử dụng rất nhiều kỹ thuật kiểm định từ đơn giản đến hiện đại để tìm cách chứng mình LOP và PPP nhưng đa số đã thất bại (xem thêm entry này). Bởi vậy một phiên bản PPP ít chặt chẽ hơn được đưa ra, gọi là relative PPP. Theo lý thuyết này bất kể LOP hiện tại có đúng hay không tốc độ thay đổi tỷ giá của hai đồng tiền giữa hai thời điểm phải phản ánh tốc độ lạm phát của hai quốc gia.

Quay lại ví dụ giá xe hơi bên trên. Giả sử giá xe năm 2013 là 50000 USD ở Mỹ và 1 tỷ VND ở VN, tỷ giá hiện tại là 21000 VND/USD. Nếu trong năm 2014 lạm phát ở VN là 10%, nghĩa là giá xe sẽ tăng lên 1.1 tỷ VND, trong khi lạm phát ở Mỹ chỉ là 2%, giá xe tăng lên 51000 USD, thì tỷ giá sẽ tăng lên 8% (= chênh lệch lạm pháp) nghĩa là 22680 VND/USD. Trong trường hợp này relative PPP đúng và sức mua giữa hai năm 2013 và 2014 không thay đổi. Hay nói theo ngôn ngữ kinh tế học là tỷ giá thực (real exchange rate) không thay đổi. Đa số các nhà kinh tế cho rằng absolute PPP không đúng trên thực tế, may ra relative PPP có thể đúng dù có cũng có nhiều lý do ảnh hưởng đến đọ chính xác của nó (vd chi phí vận tải, hàng rào thuế quan, có nhiều loại hàng hóa, dịch vụ không vận chuyển được, bản chất nền kinh tế khác nhau).

Tóm lại lý thuyết absolute PPP liên quan đến mặt bằng giá ở một thời điểm, relative PPP liên quan đến tốc độ trượt giá tương đối ở hai thời điểm. Với absolute PPP bạn có thể nói tại một thời điểm tỷ giá của một đồng tiền bị under/overvalued, với relative PPP có thể nói tốc độ devaluation/appreciation của một đồng tiền giữa hai thời điểm có phản ánh đủ chênh lệch lạm phát hay không. Giới báo chí (như trường hợp BMI của The Economist) và đa số người dân thường chỉ hiểu PPP theo nghĩa absolute. Giới finance dù hầu như chỉ quan tâm đến relative PPP cũng hay giả định tỷ giá xuất phát điểm phản ánh đúng absolute PPP nên sau một giai đoạn nếu relative PPP đúng thì absolute PPP cũng đúng. Giới kinh tế học hầu như chỉ quan tâm đến relative PPP, trừ một số nhỏ mà tôi sẽ trình bày dưới đây.

(#) Chữ "absolute" trong toán học chỉ giá trị tuyệt đối, nghĩa là giá trị không tính đến dấu. Tôi không hiểu tại sao trong finance và thỉnh thoảng trong kinh tế học (như trong trường hợp ý thuyết PPP này) chữ "absolute" lại được dùng thay cho "level" để phân biệt với "growth rate".


3.
Cuối thập kỷ 1960 một số nhà kinh tế ở University of Pennsylvania, cái nôi của hệ thống tài khoản quốc gia SNA sau này, nảy ra ý tưởng so sánh GDP (thời đó phổ biến là GNP) của các nước với nhau. Vì GDP của mỗi nước được thống kê bằng đồng nội tệ của mình, muốn so sánh phải chuyển đổi về một đồng tiền chung. Vấn đề là nếu tỷ giá thị trường tuân thủ theo absolute PPP thì việc chuyển đổi mới có ý nghĩa, bằng không một chiếc xe hơi ở nước này khi định giá bằng đồng tiền khác sẽ có thể nhiều hơn hoặc ít hơn một chiếc xe hơi tương đương ở nước được so sánh. Trong ví dụ xe hơi đầu tiên khi VN chuyển đổi một chiếc xe hơi sản xuất trong nước giá 1 tỷ VND sang USD với tỷ giá 21000 VND/USD, chiếc xe đó sẽ chỉ bằng 0.95 một chiếc xe sản xuất ở Mỹ. Như vậy khi tỷ giá thị trường không phản ánh được sức mua tương đương cần phải xác định một loại tỷ giá cho mục đích chuyển đổi GDP để không bị tình trạng so sánh cam với táo. Tỷ giá hiệu chỉnh này được gọi là tỷ giá PPP còn nghiên cứu ban đầu của UPenn đó được UN tiếp quản và phát triển gọi là International Comparison Program (ICP). ICP sau này được chia cho OECD và WB quản lý mà nhiệm vụ chính là tính tỷ giá PPP cho từng quốc gia để đảm bảo việc so sánh GDP giữa các nước có ý nghĩa.

Nếu nền kinh tế chỉ có một loại hàng hoá duy nhất thì việc tính tỷ giá PPP quá đơn giản. Trong ví dụ xe hơi bên trên tỷ giá thị trường là 21,000 còn tỷ giá PPP là 20,000.  Tạp chí The Economist đã tính "tỷ giá PPP" dựa vào một loại hàng hoá duy nhất là chiếc bánh Big Mac của McDonald's cho các nước thành viên của BMI. Với VN tỷ giá PPP theo BMI là 12,975 VND/USD đảm bảo sức mua bánh Big Mac ở VN và Mỹ như nhau. Như vậy với tỷ giá thị trường hiện tại xấp xỉ 21,000 VND đang bị undervalued tính theo sức mua Big Mac. Tất nhiên không nền kinh tế nào đơn giản như vậy mà thường phải có hàng triệu mặt hàng khác nhau, tỷ giá PPP phải đảm bảo tính chất ngang bằng sức mua cho một rổ các loại hàng hoá đó. Phức tạp hơn một chiếc xe hơi sản xuất ở VN dù có thể cùng hiệu Toyota nhưng chắc chắn sẽ khác một chiếc Toyota ở Mỹ về nhiều mặt nên dù chỉ cần tính tỷ giá PPP cho xe hơi cũng phải cân nhắc và hiệu chỉnh nhiều thứ. Chưa kể có những loại hàng hoá dịch vụ ở Mỹ có mà VN không có hoặc ngược lại, hoặc những loại hàng hoá không vận chuyển được như bất động sản. Bởi vậy việc tính toán tỷ giá PPP vô cùng phức tạp và tốn kém, bản thân UN, OECD và WB cũng chỉ tổ chức khảo sát và ước tính tỷ giá PPP cho các nước vài năm một lần. Tỷ giá PPP cho dù được tính toán cẩn thận đến đâu cũng không thể chính xác và hầu như chỉ để so sánh GDP giữa các nước.

Năm 2012 GDP đầu người của VN do World Bank công bố nếu tính theo tỷ giá thị trường VNDUSD là 1750 USD, còn tính theo tỷ giá PPP của chương trình ICP là "3787 international dollar" hay "3787 dollar at PPP". Như vậy tỷ giá PPP chỉ bằng 46% tỷ giá thị trường năm 2012, nghĩa là khoảng 9730 VND/dollar at PPP. Cùng năm đó GDP đầu người của Mỹ là 51,749 và Cambodia là 2454 international dollar, như vậy một người VN có sức mua bằng 7.3% một người Mỹ đồng thời bằng 154.3% một người Cambodia (nếu so sánh theo tỷ giá thị trường thì 2 con số này lần lượt là 3.4% và 185.9%). Như đã nói bên trên tỷ giá PPP chỉ dùng để so sánh GDP/sức mua giữa các nước chứ nếu nói VND undervalued vì số 9730 nhỏ hơn số 21,000 sẽ không chính xác. Tuy nhiên vì international dollar luôn được qui định bằng với USD, nghĩa là GDP của Mỹ tính theo tỷ giá PPP luốn bằng với GDP tính theo "tỷ giá thị trường" nên con số 9787 nói trên có thể hiểu theo nghĩa là tỷ giá VNDUSD tính theo sức mua GDP (do chương trình ICP tính toán, tương tự như BMI tính theo sức mua Big Mac do The Economist tính toán).

Bên cạnh hai loại tỷ giá này WB còn tính theo một loại tỷ giá thứ ba áp dụng lý thuyết relative PPP gọi là "dollar by Atlas method". Thực tế đây là một cách làm tắt, dễ hơn và rẻ hơn so với absolute PPP của chương trình ICP. Phương pháp này tính tỷ giá Atlas để chuyển đổi GNI từ một đồng nội tệ sang dollar bằng cách lấy trung bình tỷ giá thị trường của 3 năm, trong đó 2 năm đầu được hiệu chỉnh chênh lệch lạm phát như theo relative PPP. Hiện tại WB thống kê và công bố GNI theo Atlat method chứ không công bố GDP. Năm 2012 GNI đầu người của VN sử dụng tỷ giá Atlas là 1550 trong khi tính theo tỷ giá PPP là 3650. Lưu ý tất cả các con số trên đây đều là nominal, nghĩa là không loại trừ ảnh hưởng của lạm phát. GDP/GNI tính theo tỷ giá thị trường, Atlas, hay PPP đều có thể tính theo giá cố định của một năm gốc nào đó (real), tôi sẽ không đi sâu thêm về vấn đề này ở đây.


4.
Quay lại BMI và giá một chiếc Big Mac ở SG khi qui đổi sang USD. Tôi đoán không ít người đã bất ngờ khi The Economist cho biết VND đang undervalued dựa vào cách tính BMI của họ. Từ trước tới nay có không ít người cho rằng VND đã bị overvalued quá nhiều dẫn đến hàng hoá VN bị mất dần sức cạnh tranh, cả ở trong nước lẫn khi xuất khẩu. Bản thân tôi đã không dưới một lần khuyến nghị cần phải phá giá VND, nhiều chuyên gia khác cũng có quan điểm như vậy (cũng có những người có ý kiến ngược lại). Vậy có phải phe ủng hộ phá giá đã sai? Tất nhiên lập luận rằng VND đang bị undervalued dựa vào absolute PPP và chỉ một mặt hàng duy nhất mới hiện diên ở VN được vài ngày thì chưa chắc đã chính xác. Nhưng vấn đề không chỉ có vậy.

Ở VN mỗi khi một vị quan chức nào đó nói giá điện hay giá xăng ở VN tính ra USD vẫn còn rẻ hơn ở nhiều nước trong khu vực người dân ngay lập tức lập luận rằng nhưng thu nhập của họ gấp mấy lần của ta. Các nhà kinh tế cũng lập luận y như vậy, mà cụ thể là những người xây dựng BMI của The Economist. Trên trang web chuyên đề BMI của tạp chí này có đồ thị sau:


Trục hoành của đồ thị là GDP đầu người (nominal) năm 2011 qui đổi ra USD theo tỷ giá thị trường (số liệu do IMF công bố, có hơi khác so với số liệu của WB), còn trục tung là giá một chiếc Big Mac qui đổi ra USD theo cùng tỷ giá. Mỗi điểm tròn trên đồ thị là một nước thành viên của BMI, điểm mầu xanh ở bên cực trái là VN (tôi vẽ thêm vì The Economist chưa cập nhật). Đường mầu đỏ là ước lượng tuyến tính (OLS) giữa 2 đại lượng này, nghĩa là với một mức GDP đầu người nhất định chúng ta có thể dự đoán được giá một cái Big Mac là bao nhiêu. Trong một bài báo năm 2011 tạp chí The Economist lập luận rằng đánh giá mức độ over/undervalued của một đồng tiền dựa vào BMI ít nhất phải hiệu chỉnh cho mức độ chênh lệch GDP đầu người. Cụ thể là không nên so sánh giá một cái Big Mac ở VN là 2.84 USD với một cái ở Mỹ giá 4.62 USD để kết luận VND đang bị undervalued. Chính xác hơn phải so sánh giá 2.84 với mức giá trên đường mầu đỏ có vị trí trục hoành bằng với GDP đầu người của VN (gọi là fitted value hoặc fair value). Ước lượng của tôi sử dụng số liệu GDP đầu người năm 2012 do IMF công bố fitted value cho Big Mac ở VN là 2.84 USD, nghĩa là tỷ giá thị trường VNDUSD gần như chính xác với tỷ giá absolute PPP tính theo BMI. Không rõ Nguyễn Bảo Hoàng có dùng công thức này để tính giá cho Big Mac ở SG hay không.

Như vậy sau khi hiệu chỉnh BMI cho GDP theo đầu người, VND gần như đang ở mức fair value (VN nằm trên đường mầu đỏ). Vậy có cần/nên phá giá VND nữa hay không? Như đã nói bên trên không ai dựa vào BMI để ra quyết định về chính sách tiền tệ/tỷ giá. Nhưng ngay cả nếu chỉ nhìn vào đồ thị này tôi vẫn muốn thấy VN nằm bên dưới chứ không phải bên trên đường mầu đỏ. Điểm có khoảng cách xa đường mầu đỏ nhất ở phía trên là Brazil, còn phía dưới là Hong Kong/Japan. Không biết bạn thế nào chứ tôi prefer Hong Kong/Japan hơn là Brazil (về sức cạnh tranh). Bởi vậy quan điểm của tôi vẫn là nên phá giá VND để tính theo BMI đồng nội tệ của VN undervalued từ 30 đến 40% giống như 2 nước châu Á nói trên.



Wednesday, January 15, 2014

Vietnam 2013


1.
Dưới đây là mẩu đối thoại giữa tôi và anh công an cửa khẩu Tân Sân Nhất một ngày cuối tháng 12/2013:

- Chào anh Giang, ba năm rồi anh mới về thăm nhà nhỉ.
- Vâng, lần cuối tôi về hồi...
- À anh về lần cuối năm 2010. Anh Giang làm việc ở Singapore à?
- Không tôi làm việc ở Úc, chỉ quá cảnh qua Singapore thôi.
- Anh về nghỉ có lâu không?
- Tôi về được 3 tuần.
- Thủ tục của anh xong rồi, chúc anh một kỳ nghỉ vui vẻ.

Đi qua khỏi cửa khẩu tôi vẫn còn ngỡ ngàng về thái độ lịch sự của người cán bộ trẻ này. Dù những mẩu đối thoại thân thiện như vậy ở cửa khẩu có thể còn rất hiếm, dù ngay sau đó tôi có một trục trặc nhỏ với cán bộ hải quan kiểm tra hành lý, đây chắc chắn là một tín hiệu đáng mừng về thái độ phục vụ của các cơ quan công quyền VN. Những ngày sau đó ở VN tôi có dịp tiếp xúc với một cán bộ của Uỷ ban nhân dân Q.7, một anh cảnh sát giao thông trên đường Nguyễn Văn Linh, cảm giác chung vẫn là thái độ phục vụ của công chức đã nhã nhặn hơn rõ rệt so với trước đây. Hi vọng tôi không nhầm.

Không chỉ các cơ quan công quyền, hầu như tôi không có phàn nàn gì về thái độ phục vụ của hầu hết nhân viên trong private sector. Từ những anh lái xe taxi, phục vụ nhà hàng, bảo vệ chung cư, đến nhân viên bán hàng, hướng dẫn du lịch, ai cũng thân thiện và chuyên nghiệp hơn trước. Nền kinh tế đang dịch chuyển sang service sector bắt đầu từ những con người cụ thể như vậy.


2.
Ngày cuối cùng trước khi rời VN tôi đến một chi nhánh của BIDV để chuyển một ít tiền đóng góp cho chương trình Nhịp cầu Hoàng Sa(*) nghe "lóm" được mẩu đối thoại sau:

- Chị ơi cho tôi hỏi lãi suất gửi tiết kiệm ở đây là bao nhiêu phần trăm?
- Sáu phần trăm chị ạ.
- Sao thấp thế chị? Có ngân hàng khác nhận gửi tiết kiệm bảy phần trăm cơ mà.
- Chị thông cảm, bọn em là ngân hàng nhà nước mà.

Dường như việc khu vực kinh tế nhà nước làm ăn kém cạnh tranh hơn private sector đã trở thành một điều hiển nhiên ở VN, không chỉ với các nhà kinh tế mà còn với đa số người dân. Vậy nhưng bản Hiến pháp mới vừa được QH thông qua vẫn khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Nếu cuối thập kỷ 1980 một vài biện pháp tháo gỡ kinh tế đã khởi đầu cho một giai đoạn phát triển vượt bực, ngày nay tháo gỡ vòng kim cô kinh tế nhà nước chắc chắn sẽ là chìa khoá cho một cuộc đổi mới kinh tế lần hai. Thay vì cứ bắt dân chúng phải "thông cảm", các nhà lãnh đạo nên vượt qua rào cản tư tưởng để đất nước có cơ hội phát huy hết tiềm năng của mình. Mèo đen mèo trắng không quan trọng, miễn là bắt được chuột.

(*): Chương trình Nhịp cầu Hoàng Sa do một số anh chị phóng viên khởi xướng với mục đích quyên góp tiền giúp đỡ thân nhân những liệt sĩ đã hi sinh trong trận chiến giữ đảo Hoàng Sa năm 1974. Đây cũng là một hoạt động nhằm tuyên truyền và giáo dục thế hệ trẻ về chủ quyền của VN trên quần đảo này dù TQ đã chiếm đóng trái phép nó 40 năm qua. Cá nhân tôi thấy đây là một chương trình rất nhân văn và cần thiết nên mong muốn các bạn đọc của blog tham gia nếu có điều kiện. Có thể là một đóng góp nhỏ cho quĩ, có thể là tìm hiểu thêm và giới thiệu cho bạn bè, người thân về chủ quyền của VN ở Hoàng Sa và những liệt sĩ đã ngã xuống bảo vệ quần đảo này. Rất mong sẽ có một chương trình tương tự cho các liệt sĩ ở Trường Sa.


3.
Không chỉ với Nhịp cầu Hoàng Sa, nhiều hoạt động từ thiện đáng quí khác cũng đang diễn ra sôi động hoặc âm thầm. Dự án "Cơm treo" mà tôi đã có lần đề cập đến trên blog này đã có được 9 địa điểm nhận phát hành voucher. Dù chưa nổi tiếng bằng chương trình "Cơm có thịt", lòng nhiệt tình của các bạn trẻ vận hành dự án "Cơm treo" làm tôi rất khâm phục.

Nếu "Cơm treo" phát hành voucher để huy động quĩ một cách trực tiếp và low-cost nhất cho các quán cơm Nụ cười, dự án "Bgood.vn" có một cách tiếp cận low-cost khác với các mạnh thường quân để giúp đỡ cho các bạn sinh viên nghèo vượt khó. Kết hợp giữa công nghệ và hình thức cloud-sourcing, bgood.vn, một website do một chuyên gia tài chính tại SG xây dựng nhằm kết nối trực tiếp nhà tài trợ với các bạn sinh viên cần giúp đỡ. Dù còn nhiều điều phải cải thiện, với khẩu hiệu "Không để sinh viên nghèo phải nghỉ học vì thiếu tiền đóng học phí", bgood.vn đang đi đúng hướng. Mạng xã hội trên không gian ảo đã và đang làm thay đổi xã hội thực, có thể thấy điều này rất rõ trong các hoạt động từ thiện.


4.
Trên đường từ sân bay Tân Sân Nhất về nhà, nhận xét đầu tiên của tôi là đường xá SG đã thông thoáng hơn nhiều so với cách đây 3 năm. Nhiều người giải thích rằng đó là vì SG đã có thêm nhiều cầu vượt, hầm chui, đại lộ mới, và nhất là gần như không còn "lô cốt" trên các tuyến đường chính. Tất nhiên đó là những điều rất đáng mừng, tuy nhiên sau 3 tuần quan sát tôi có cảm giác giao thông thành phố này "dễ thở" hơn có lẽ còn vì các hoạt động kinh tế đã kém sôi động hơn so với trước kia. Các công trình xây dựng lớn không còn nhiều, sức mua ở các trung tâm mua sắm lớn có vẻ giảm đi đáng kể, ngay cả các quán nhậu bình dân ven đường cũng không còn náo nhiệt như cách đây vài năm. Điều này phù hợp với tình hình kinh tế chung của cả nước.

Nhưng bất chấp mật độ giao thông giảm xuống, tình trạng ô nhiễm không khí có vẻ trầm trọng hơn. Trong suốt 3 tuần tôi ở SG không ngày nào tôi nhìn thấy bầu trời xanh và không tối nào tôi thấy trăng sao dù trời không hề mây. Thấy báo đài nói đó là sương mù do giai đoạn này khí hậu khu vực SG có nhiều biến động, tôi ngờ rằng lý do chính là smog tương tự như tình trạng ô nhiễm của Bắc Kinh và Thương Hải. Chỉ cần lên khu vực làng đại học Thủ Đức là bầu trời đã khác, biến đổi khí hậu không thể ảnh hưởng mỗi trung tâm SG. Giải pháp lâu dài cho cả vấn đề ô nhiễm lẫn giao thông là giãn dân và các hoạt động kinh tế, hành chính khỏi chung tâm thành phố. Chạy theo nhu cầu giao thông bằng cách mở đường, xây cầu vượt, đường trên cao... vừa tốn kém và làm xấu bộ mặt thành phố, vừa không giải quyết triệt để được các vấn đề đô thị nói trên.

Qui hoạch giãn đô thị còn giúp cho vấn đề bảo tồn những công trình kiến trúc và khu phố cổ. Mặc dù Thủ Thiêm đã có một vài complex nhà cao tầng và đường xá mới, khu đô thị này đáng ra phải được phát triển sớm hơn và nhanh hơn để giải toả sức ép xây dựng cho trung tâm Q.1. Hi vọng với hầm chui và các cây cầu mới qua sông SG, bờ Đông con sông này sẽ thu hút các nhà đầu tư và dân cư hơn để thành phố không tiếp tục bị mất những ngôi nhà, biệt thự cổ, là chứng tích của biết bao thăng trầm lịch sử.


5.
Nói về bảo tồn kiến trúc đô thị chắc không đâu ở VN làm tốt bằng Hội An. Tôi có mấy ngày về quê ở Quảng Nam và tranh thủ ghé thăm Hội An. Dù du khách đông đúc hơn nhiều tôi vẫn cảm nhận được cái khung cảnh hơn 15 năm trước khi lần đầu tới đây. Tất nhiên so sánh SG với Hội An có quá nhiều khập khiễng, nhưng phải nói chính quyền của cái thị trấn nhỏ này đã rất có tầm nhìn và giữ được kỷ cương trước các cám dỗ bán đất đai làm du lịch. Không phải vô cớ mà Hội An luôn được khách du lịch quốc tế tìm đến, nhiều bạn bè Úc của tôi ở đây khi đi VN về đều có ấn tượng rất tốt với thành phố này.  Thậm chí một cặp vợ chồng già đã sang thuê nhà ở lại Hội An dài hạn, vừa du lịch vừa làm từ thiện. Một buổi tối đi dạo trên những con phố cổ của Hội An nghe nhạc cổ điển phát ra từ các cặp loa gắn trên các trụ đèn ven đường, tôi tự nhủ hoá ra "loa phường" không phải ở đâu cũng tệ.

Bên cạnh Hội An, Đà Nẵng dường như có một mô hình phát triển hoàn toàn khác. Thành phố này bán hết các bãi biển đẹp cho tư nhân đầu tư, cả khu du lịch trên núi Bà Nà cũng được bán cho một "soái Nga". Mặc dù tôi có nghe một vài lời bàn ra tán vào về việc chia chác ở Đà Nẵng, có thể nói thành phố này đã rất thành công trong qui hoạch và phát triển đô thị (dựa vào tiền bán đất?). Đường xá khang trang, khá sạch và qui củ so với SG, cảnh sát giao thông không nhũng nhiễu (tôi chứng kiến tận mắt), sân bay hiện đại, tiện nghi, đã cho tôi cảm giác Đà Nẵng sẽ còn tiến xa. Có thể chiến lược phát triển của Đà Nẵng khác với Hội An, nhưng tôi tin lãnh đạo ở hai địa phương này đều có tâm và có tầm, đáng để người dân hi vọng.

Trái với cảm giác lạc quan khi ra Đà Nẵng và Hội An, mấy ngày tôi đi nghỉ ở Đà Lạt làm tôi lo ngại cho thành phố này dù con người ở đây thật tốt. Cũng là một thành phố du lịch nhưng Đà Lạt hầu như không thu hút được khách nước ngoài, mấy ngày tôi ở đây chỉ nhìn thấy vài du khách Nga và một số du khách Nhật (hoặc Hàn quốc). Dù Đà Lạt là vựa rau và vựa hoa cho toàn miền Nam (hình như nay đã bán ra cả miền Bắc) kinh tế ở đây có vẻ không khởi sắc, có thể trong xu hướng chung của kinh tế cả nước trong vài năm lại đây. Thành phố Đà lạt rất thanh bình và có lẽ khá bảo thủ (kiên quyết không lắp đèn giao thông), nhưng giống như SG thành phố này dường như không thể chống chọi được với làn sóng xây dựng mới và phế bỏ nhiều công trình kiến trúc cổ. Đi qua một ngôi biệt thự mới xây khá diêm dúa gần Dinh 2 (được giới thiệu là nhà của bí thư tỉnh uỷ), tôi không khỏi có cảm giác thất vọng và thương cảm cho những người bạn Đà Lạt mới gặp của mình. Họ xứng đáng có một thành phố đẹp hơn.


6.
Nói chuyện với một anh bạn vong niên, hiện là chủ một doanh nghiệp tầm trung (doanh số hơn chục triệu USD/năm), nghe được hai điều thú vị về doanh nghiệp của bạn mình. Đầu tiên là sự chuyển dịch kinh doanh từ một ngành dịch vụ tại các đô thị lớn sang nông nghiệp với kế hoạch phát triển một chuỗi sản xuất nông nghiệp hiện đại và khép kín. Ba năm trước tôi đã được biết một quĩ đầu tư ở SG đổ tiền xuống miền Tây, lần này về thấy làn sóng đầu tư vào nông nghiệp sôi động lên nhiều. Những tên tuổi lớn bỏ tiền vào nông nghiệp/nuôi trồng thuỷ sản như CP, Minh Phú, Hoàng Anh Gia Lai, Bảo vệ thực vật An Giang đã đành, bạn tôi vốn không có kinh nghiệm gì về nông nghiệp cũng nhảy vào lĩnh vực này thì đó là dấu hiệu rất khả quan cho agri-sector của VN.

Có thể những lĩnh vực đầu tư truyền thống (manufacturing, real estate...) không còn nhiều lợi nhuận thậm chí lỗ là lý do buộc cách doanh nghiệp VN phải quay sang nông/ngư nghiệp. Nhưng chuyến thăm doanh nghiệp Rừng Hoa ở Đà Lạt cho tôi cảm giác VN có thể áp dụng những công nghệ rất tiên tiến vào nông nghiệp để tạo ra một cuộc cách mạng productivity lần hai (lần đầu diễn ra khi hệ thống hợp tác xã nông nghiệp được xoá bỏ hồi đầu thời kỳ đổi mới). Với vốn liếng dồi dào, công nghệ tiên tiến, trình độ quản lý hiện đại, những nhà đầu tư như bạn tôi có thể sẽ làm thay đổi diện mạo nông thôn VN trong những năm tới. Rào cản lớn nhất cho tiến trình này vẫn là những qui định quản lý nhà nước bất cập, hệ thống hành chính quan liêu, đến mức bạn tôi phải mở một văn phòng ở HN và để CEO ngồi làm việc ở đó để tiện "liên hệ" với các bộ ngành.

Điều ngạc nhiên thứ hai là CEO bạn tôi thuê là một người nước ngoài. Việc doanh nghiệp VN thuê CEO và các lãnh đạo cao cấp người nước ngoài không mới. Nhiều doanh nghiệp và ngân hàng lớn đã làm điều này từ lâu, nhưng một doanh nghiệp tầm trung như bạn tôi thuê CEO nước ngoài thì đó là một cột mốc quan trọng trong thị trường quản trị doanh nghiệp dù đó có thể là một trường hợp cá biệt. Sở dĩ tôi nghĩ điều này quan trọng vì khi nhân sự nước ngoài đã trở nên phổ biến (đến mức không chỉ những doanh nghiệp rất lớn mới thuê được), hệ thống doanh nghiệp nhà nước sẽ buộc phải tính đến chuyện thuê CEO hoặc các nhân sự cấp cao khác từ nước ngoài. Rồi không chỉ giới doanh nghiệp, biết đâu một ngày nào đó NHNN sẽ thuê một giáo sư kinh tế tên tuổi từ MIT sang làm thống đốc.


7.
Tất nhiên đó chỉ là một giấc mơ đẹp cho tương lai, ở thời điểm hiện tại một phó tổng giám đốc trong ngành dầu khí cho tôi biết Bộ Tài chính đang có kế hoạch đặt mức lương trần cho các vị trí chủ chốt ở các doanh nghiệp nhà nước, mà cụ thể là 20 triệu VND cho vị trí của anh ấy. Với mức lương như vậy thuê một CEO người Việt có trình độ còn khó chứ đừng nói gì thuê người nước ngoài. Bên cạnh cắt giảm lương của lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nước, Bộ Tài chính còn yêu cầu các doanh nghiệp này phải nộp hết lợi nhuận trong 2 năm 2013-2014 về cho bộ. Mà không chỉ lợi nhuận, thậm chí một số quĩ dự trữ rủi ro được doanh nghiệp trích từ lợi nhuận của các năm trước đó cũng có khả năng bị Bộ Tài chính "tịch thu". Không ai nói ra nhưng chiến dịch "tận thu" này chắc hẳn phải có liên hệ mật thiết với việc bộ đã hoàn thành kế hoạch thu ngân sách năm 2013 dù cuối Q3 vừa rồi đã có rất nhiều thông tin bất lợi.

Hiển nhiên khi phải giao nộp hết lợi nhuận về cho ngân sách, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước trong năm 2014 sẽ gặp nhiều khó khăn. Cụ thể họ sẽ phải lập kế hoạch và dự án đầu tư xin Bộ Tài chính cấp vốn, nghĩa là quay ngược cơ chế đầu tư về thời bao cấp gần 30 năm trước. Một doanh nghiệp mà nhất cử nhất động đều phải xin phép và đợi Bộ Tài chính cấp vốn thì không thể làm ăn hiệu quả, những doanh nghiệp nhà nước bị trói trong vòng kim cô như vậy sẽ càng là gánh nặng cho nền kinh tế. Bên cạnh đó một khi nhà nước đã consolidate balance sheet của các SOE vào balance sheet của mình như vậy, nợ của hệ thống này sẽ nghiễm nhiên trở thành nợ công. Vậy tỷ lệ public debt/GDP sẽ vượt xa "ngưỡng an toàn" 60%, các tổ chức quốc tế, các chủ nợ nước ngoài sẽ nghĩ gì?


8.
Chưa cần phải đợi đến khi cơ chế xin cho đầu tư cổ lỗ đó đi vào hiện thực, hệ thống SOE mà điển hình là nhiều tập đoàn kinh tế nhà nước đã lâm vào hoàn cảnh khó khăn từ mấy năm nay. Năm 2013 đã đánh dấu chấm hết cho tập đoàn Vinashin. Sau một loạt nỗ lực tái cấu trúc của chính phủ, tập đoàn này đã phải phân tán rất nhiều tài sản xấu và nợ cho các tập đoàn khác để rồi chính mình bị xoá tên. Những tập đoàn nhà nước và các công ty khác, những ngân hàng và cả công ty chứng khoán phải chia nhau ra gánh bớt nợ cho Vinashin, nói cách khác là chia sẽ lỗ cho tập đoàn này. Tôi nghe hai doanh nghiệp thuộc hàng "số má" của VN than rằng vài ngàn tỷ ôm cho Vinashin đành phải quên đi. Nhưng dẫu sao họ vẫn thuộc hàng cứng cựa nên còn chịu đựng được, các doanh nghiệp yếu hơn có thể sẽ sụp như trường hợp Vinalines hay một vài ngân hàng chịu cảnh bị thôn tín. Phân chia lỗ của Vinashin cho các doanh nghiệp gánh bớt tương đương với một dạng thuế ngầm đánh lên giới doanh nghiệp. Hậu quả của nó tương đương như việc bóp nghẹt chính sách tài khoá khi nền kinh tế đang yếu.

Aggregate demand suy giảm trong năm này là nguyên nhân chủ yếu kéo lạm phát xuống đồng thời depress credit demand. Mặc dù nợ xấu trong hệ thống ngân hàng rất đáng ngại và là điều phải giải quyết, tôi không tin đó là trở ngại chính cho tăng trưởng tín dụng trong năm 2013. Làn sóng doanh nghiệp phá sản/biến mất và bất động sản tiếp tục đóng băng là lý do làm credit demand giảm, bởi vậy ngân hàng thừa tiền nhưng rất khó cho vay. Giải pháp thông thường theo textbook trong trường hợp này là kích cầu và giảm lãi suất, tuy nhiên balance sheet của cả government và private sector đều tệ, còn NHNN vẫn chưa thoát được ám ảnh của lạm phát cao trong mấy năm trước. Bởi vậy VN chỉ còn trông chờ vào quá trình creative destruction tự nhiên của một nền kinh tế thị trường. Năm 2013 diễn ra đúng như vậy, chính phủ và NHNN đã gần như khoanh tay ngồi nhìn, một vài chính sách khuấy động báo chí một thời gian như đấu thầu vàng, VAMC, 30K tỷ "cứu" bất động sản trên thực tế có ảnh hưởng khá nhỏ vào nền kinh tế.

Vậy nhưng có vẻ nửa sau của 2013 kinh tế VN xuất hiện một vài dấu hiệu khả quan. Chỉ số PMI của HSBC/Markit đã được cải thiện rõ rệt. Credit growth của một số ngân hàng nhúc nhích đi lên, đầu tư nước ngoài tăng trưởng khá, thị trường bất động sản tuy chưa hết đóng băng nhưng đã bắt đầu có giao dịch. Một người bạn của tôi cho rằng 2-3 tháng cuối năm 2013 giá căn hộ của một số dự án cao cấp bắt đầu quay đầu đi lên, mọi người bắt đầu tính đến chuyện mua nhà thay vì ngồi chờ thêm một thời gian nữa đợi giá xuống thêm. Bản thân giới chủ đầu tư cũng lạc quan hơn và "chảnh" hơn khi từ chối sang lại dự án với giá rẻ cho các nhà đầu tư nước ngoài. Câu hỏi của họ cho các policy maker là có chính sách nhà đất gì mới không chứ không còn kêu gào giảm lãi suất hay bơm vốn như trước nữa. Điều này chứng tỏ cash flow của họ không còn quá khó khăn và balance sheet đã đươc cải thiện.

Không chỉ với các doanh nghiệp bất động sản lớn, một số doanh nghiệp vừa và nhỏ mà tôi có dịp tiếp xúc cho biết họ đã giảm số nợ ngân hàng xuống rất nhiều, thậm chí có doanh nghiệp đã trở thành debt free. Đây là thành quả của một giai đoạn deleveraging gian khổ mà họ đã trải qua, tất nhiên ai không thành công đã phải ngậm ngùi phá sản. Trả lời cho câu hỏi của tôi: "Anh/chị đánh giá tình hình kinh doanh năm 2013 tốt hơn hay kém hơn 2012, năm 2014 liệu có khả quan hơn không?", đa số đánh giá tình hình kinh doanh năm 2013 đã chạm đáy. Tất nhiên không ai tỏ vẻ quá lạc quan cho năm 2014 nhưng chí ít họ cho rằng năm nay sẽ không tệ hơn năm ngoái. Mẫu khảo sát của tôi khá nhỏ (<10) và phần lớn được trao đổi sau khi cả người hỏi lẫn người trả lời đã cụng vài ly nên có thể không chính xác, nhưng nhìn chung phù hợp với kết quả khảo sát PMI tôi đề cập bên trên.


9.
Dấu hiệu là như vậy nhưng liệu đâu là nguyên nhân để có thể hi vọng vào năm 2014? Loại trừ thiên tai và những biến động chính trị xã hội mà không ai đoán được, xung hướng FDI của năm 2014 vẫn tiếp tục tốt. Nền TQ càng ngày càng có dấu hiệu sẽ có correction về tương quan tiêu dùng/đầu tư, dẫn đến một làn sóng các nhà đầu tư nước ngoài và cả các nhà đầu tư TQ sẽ ra đi tìm nơi có nhân công rẻ hơn. Chiến lược China+1 để giảm bớt rủi ro sẽ có lợi cho VN và các nước nghèo khác ở châu Á, việc Samsung đã và đang mở rộng nhà xưởng ở VN là một minh chứng. Dòng vốn FPI thông qua các quĩ đầu tư có thể sẽ ấm lên dù hai đầu tầu VinaCap và DC chưa có rục rịch gì. Một vài nguồn tin khả tín của giới quĩ đầu tư cho biết họ đã và đang raise fund từ bên ngoài, vào khoảng vài chục triệu USD một lần. Mặc dù dòng vốn này rất kém ổn định, việc nó có dấu hiệu quay trở lại sau một loạt những vụ thoái vốn đình đám trong năm vừa rồi cho thấy vẫn còn những nhà đầu tư nước ngoài muốn đặt cược vào kinh tế VN.

Nguyên nhân thứ hai là sự phục hồi của kinh tế thế giới. Hầu hết giới kinh tế tài chính quốc tế, kể cả IMF, đều cho rằng năm 2014 kinh tế thế giới (trừ TQ) sẽ tăng trưởng tốt hơn nhiều so với năm 2013. Châu Âu đã thoát ra được bóng ma khủng hoảng nợ công nên chí ít các nước PIGS sẽ không rơi tự do nữa. Dù Đức có dấu hiệu chựng lại trong tháng 12/2013 và tình hình kinh tế Pháp đang xấu đi, nhìn chung châu Âu sẽ có tăng trưởng trong năm nay. Trong khi đó cả Mỹ lần Nhật đều khá lạc quan về những tiến triển kinh tế gần đây. Bất chấp những trò "mèo chuột" trong chính trường Mỹ (e.g. government shutdown, debt ceiling) thị trường đã rất lạc quan phản ánh qua giá chứng khoán và cả giá bất động sản. Còn với Nhật Abenomics đã chứng minh được đây là hướng đi đúng cho đất nước này dù con đường phục hồi còn khá dài. VN với kim ngạch xuất khẩu gần 90% GDP sẽ được lợi trực tiếp khi những thị trường nói trên phục hồi. Nếu TPP được thông qua trong năm nay, đây sẽ là một cú hích quan trọng cho nền kinh tế VN không kém gì lần gia nhập WTO. Điều khác biệt căn bản là lần này VN đã có kinh nghiệm đối phó với sự tăng trưởng đột biến của dòng vốn và dòng chảy thương mại.


10.
Trong 3-4 năm gần đây khi nói chuyện với các nhà đầu tư và doanh nhân nước ngoài, tôi luôn "quảng cáo" rằng nền kinh tế VN có rất nhiều tiềm năng dù triển vọng trong ngắn hạn không sáng sủa cho lắm. Nếu ai có ý định đầu tư vào VN nên đặt mục tiêu dài hạn chứ trong vài năm có thể có nhiều rủi ro vĩ mô. Sau lần về thăm nhà vừa rồi, có lẽ nhận định trên không còn đúng nữa. Ngắn hạn như đã nói bên trên tôi bớt bi quan khá nhiều. Một hai năm lại đây tôi cho rằng tỷ giá là rủi ro rất lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài vì NHNN có thể (và nên) phá giá VND thật mạnh để khôi phục sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên rủi ro đó đã không xảy ra và trong năm 2014 chính NHNN đã khẳng định không để VND mất giá quá 2%, nhỏ hơn nhiều so với mức chênh lệch lạm phát. Ở đây tôi không bàn về tính đúng sai của chính sách giữ tỷ giá này (mà tôi vẫn cho là sai), đối với các nhà đầu tư nước ngoài đây là một dạng subsidy ngầm của NHNN vì cơ quan này đã "biếu không" cho họ một hợp đồng bảo hiểm rủi ro tỷ giá mà thông thường họ phải tốn khoảng 5-6% cho số tiền họ định đầu tư. Trong ngắn hạn, khi rủi ro vĩ mô đã giảm như nói bên trên, đây là một deal "hời" cho giới đầu tư/đầu cơ nước ngoài nếu "lời hứa" của NHNN tin được.

Nhưng về dài hạn tôi bi quan hơn trước rất nhiều. Có không ít những doanh nhân trong nước mà tôi gặp đã hỏi về thủ tục định cư sang Úc và những nước phát triển khác. Một số nói thẳng họ sẽ ra đi, cách này hay cách khác, nước này hay nước khác. Chí ít hầu hết những người tôi gặp đều nói họ muốn cho con cái ra nước ngoài học và ở lại lập nghiệp bên ngoài. Lý do là họ không còn hi vọng vào tương lai của VN cho dù họ đang kiếm tiền rất tốt ở đây. Dù mẫu khảo sát của tôi rất nhỏ nhưng nếu lấy con số 80% giới nhà giàu TQ muốn ra nước ngoài sống làm ước lượng cho VN, có lý do để lo ngại rằng một làn sóng người giàu và middle class của VN sẽ âm thầm ra đi. Báo chí và nhiều quan chức đã từng cảnh báo về nạn chảy máu chất xám, lần này VN sẽ không chỉ mất chất xám mà cả vốn liếng và kinh nghiệm kinh doanh, quản lý của những người đã góp phần không nhỏ cho sự phát triển kinh tế trong hơn 20 năm qua. Bất luận giới kinh tế và đầu tư quốc tế nhìn nhận VN thế nào, một khi chính những người trong cuộc chán nản bỏ đi, tương lai lâu dài của nền kinh tế không thể xán lạn được.

Viết đến đây chợt nhớ một câu nói của Đặng Tiểu Bình mà một người bạn đã nhắc lại chưa lâu: "Ai ra nước ngoài (học tập) rồi trở về là người yêu nước, ai ở lại là người vì nước". Tôi nghĩ những người chọn con đường ra đi không phải họ không yêu nước, vì nước, mà vì họ không còn thấy tương lai của đất nước với thể chế kinh tế và chính trị hiện tại dù tiềm năng vẫn còn. Không có những thay đổi mạnh mẽ về thể chế, niềm tin sẽ không quay trở lại.


01/2014