Tuesday, March 8, 2011

Total national financing


Bạn Hiếu Lê hỏi M2 và monetary base (B) khác nhau thế nào, tôi nghĩ đây là câu hỏi mà bất kỳ ai đã từng nhìn thấy công thức MV=PY cũng thắc mắc tương tự. M trong công thức này có thể hiểu là monetary base, nghĩa là tiền mặt và deposit của commercial banks tại ngân hàng trung ương (thường gọi là reserve). Đây là đại lượng mà ngân hàng trung ương có thể kiểm soát được trực tiếp bằng các nghiệp vụ tiền tệ của mình.

Tuy nhiên đại lượng này không có mấy giá trị về mặt thực tế nếu thị trường tài chính/ngân hàng đã phát triển đến một mức độ nhất định. Nên nhớ trong công thức MV=PY, vế trái biểu diễn tổng thanh toán cần thiết cho các hoạt động kinh tế và monetary base (B) chỉ là một phần rất nhỏ trong số tổng thanh toán đó. Về mặt lý thuyết, M1=B+ "một số công cụ thanh toán", M2=M1 + "một số công cụ thanh toán khác", M3 = M2+..... Vấn đề đưa những công cụ nào vào thành phần "một số công cụ thanh toán" trong các công thức trên tùy vào từng ngân hàng trung ương, miễn là họ hài lòng với đại lượng M1, M2,... là đại diện tương đối cho tổng phương tiện thanh toán.

Hôm qua Business Insider cho biết TQ đang nghiên cứu chuyển sang sử dụng một chỉ số mới gọi là Total national financing (TNF). Về cơ bản đây cũng là tổng của các phương tiện thanh toán bao gồm cả các công cụ tài chính bên ngoài hệ thống ngân hàng thương mại, vd bonds, equity. Theo một nghiên cứu của PBoC, TNF có correlation với các chỉ số kinh tế macro lớn hơn M2 và total credit. Do vậy PBoC tin rằng target TNF sẽ có tác dụng trực tiếp và hiệu quả hơn vào nền kinh tế so với targeting M2 hay total credit. Tất nhiên targeting TNF khó hơn nhiều vì nó vượt ra ngoài hệ thống ngân hàng thương mại truyền thống, không rõ PBoC sẽ làm thế nào. Dẫu sao đây cũng là điều policy makers của VN nên theo dõi và học hỏi.


Wednesday, February 23, 2011

On the road


Tôi sẽ travel trong khoảng 1 tuần nên nhiều khả năng không update blog và trả lời comments của các bạn được, xin thứ lỗi. Hẹn gặp lại cuối tuần tới.


Update: Đang ngồi đợi transit tranh thủ đọc báo thấy có tin này thú vị nên phải comment vài dòng. Thoạt nhìn cái tựa bài "Đề suất lập ngay 'quĩ ổng định tỷ giá VND'" tôi có cảm giác người đưa ra ý tưởng này không hiểu gì về chức năng của ngân hàng trung ương và dự trữ ngoại hối quốc gia. Tuy nhiên ngẫm một lúc thấy ông cũng có lý khi không đếm xỉa gì đến vai trò điều phối tỷ giá của NHNN. Vấn đề là VN có 2 thị trường ngoại tệ: chính thức và phi chính thức. NHNN có thể can thiệp vào thị trường chính thức nhưng không thể cho nhân viên ra chợ đem mua bán ngoại tệ được. Trong điều kiện bình thường có thể tồn tại một số "kênh" lưu thông ngoại tệ giữa 2 thị trường tạo điều kiện arbitrage nếu chênh lệch tỷ giá lớn. Nhưng trong thời điểm khủng hoảng/khó khăn những "kênh" này sẽ biến mất hoặc thu hẹp lại, càng làm cho chênh lệch tỷ giá trên 2 thị trường doãng ra. Vậy lập một quĩ bình ổn nằm ngoài NHNN, tốt nhất dưới dạng công ty cổ phần, có chân rết/liên hệ với thị trường chợ đen sẽ giải quyết được phần nào cái dilemma nói trên. Một hedge fund thuần túy VN chuyên đầu cơ ngoại tệ trên thị trường nội địa? Phải chuẩn bị CV là vừa :-)


Libya


Theo Alex Tabarrock (MR), con trai tổng thống Gaddafi, người tuyên bố trên truyền hình Libya mấy ngày trước rằng "we will fight to the last minute, until the last bullet" đã hoàn thành luận án PhD về international relation tại LSE năm 2007. Phần abstract của luận án viết thế này:

"This dissertation analyses the problem of how to create more just and democratic global governing institutions, exploring the approach of a more formal system of collective decision-making by the three main actors in global society: governments, civil society and the business sector....

The thesis explains and adopts three philosophical foundations in support of the argument. The first is liberal individualism; the thesis argues that there are strong motivations for free individuals to seek fair terms of cooperation within the necessary constraints of being members of a global society. Drawing on the works of David Hume, John Rawls and Ned McClennen, it elaborates significant self-interested and moral motives that prompt individuals to seek cooperation on fair terms if they expect others to do so. Secondly, it supports a theory of global justice, rejecting the limits of Rawls’s view of international justice based on what he calls ‘peoples’ rather than persons. Thirdly, the thesis adopts and applies David Held’s eight cosmopolitan principles to support the concept and specific structures of ‘Collective Management’."

Update (21/3): Bruce Krasting có một nhận xét thú vị: dường như các báo tiếng Anh không thống nhất được với nhau cách phiên âm tên của tổng thống Libya:

Gadhafi……..WSJ
Gaddafi……..London Telegraph
Qaddafi…….NYT
Kadafi………LA Times
Kaddafi…….Christian Science Monitor
Gadahafi…..Yahoo
Khadafy……NY Daily News
Ghadafi…….NZZ
Khaddafi…..NZZ
Khadifi……..Wikipedia
Ghaddifi……Daily Mail


Tuesday, February 22, 2011

Forward looking


Tác giả Minh Sơn của VEF tường thuật: "Trước Tết, Ngân hàng Nhà nước cho biết, nếu CPI tháng 2/2011 tăng khoảng 1,4% thì lãi suất cơ bản sẽ được điều chỉnh giảm". Ở đây chưa bàn về việc liệu chính sách tiền tệ có nên chỉ nhìn vào một con số lạm phát hay không, giới kinh tế gọi cách hoạch định chính sách kiểu này là "nhìn vào gương chiếu hậu".

Chính sách tiền tệ/kinh tế phải được tính toán trên các dự báo kinh tế trong tương lai, tất nhiên phải dựa vào những gì đã xảy ra nhưng đó chỉ là một phần dữ kiện. Lạm phát tháng 2 dù có dưới 1.4% nhưng không khó có thể dự báo lạm phát sẽ gia tăng do hậu quả của đợt phá giá vừa rồi cũng như những kế hoạch tăng giá điện, nước, xăng dầu sắp tới (tôi nghĩ NHNN/chính phủ phải "dự báo" được những điều này ở thời điểm trước Tết). Hoạch định chính sách theo quan điểm "forward looking" có thể dịch ra tiếng Việt là "nhìn xa trông rộng".


Update (23/2): Đọc bài này xong thấy giới kinh doanh có "forward looking" hơn các nhà hoạch định chính sách.


Friday, February 18, 2011

Bank subsidy


Cùng một vấn đề nhưng 2 favorite bloggers của tôi có 2 quan điểm ngược nhau. Michael Pettis cho rằng sau các cuộc khủng hoảng tài chính/ngân hàng các central banks thường trợ giúp hay bailout những ngân hàng gặp khó khăn bằng cách tạo ra một đường yield curve thật dốc (steep), nghĩa là chênh lệch giữa lãi suất ngắn hạn và dài hạn rất cao. Vì ngân hàng đa số vay ngắn hạn rồi cho vay lại dài hạn nên họ sẽ được hưởng chênh lệch lãi suất cao hơn, coi như được central bank gián tiếp giúp đỡ.

Ngược với quan điểm này, Paul Krugman cho rằng lợi nhuận của các ngân hàng khi có steep yield curve chỉ là tạm thời và trong tương lai khi độ dốc của yield curve giảm xuống thì các ngân hàng sẽ lỗ. Do đó xét tổng thể dài hạn các ngân hàng chẳng được lợi lộc gì khi chênh lệch lãi suất ngắn hạn và dài hạn tăng lên. Có thể reported earnings trong ngắn hạn tốt lên nhưng đó là thiếu sót của hệ thống kế toán và/hoặc do incentive ngắn hạn của những người điều hành ngân hàng (để có bonus).

Theo bạn MP hay PK đúng? Nếu bạn đồng ý với quan điểm của MP, ở VN NHNN có bao giờ trợ giúp cho các NHTM theo cách này không? Nếu không NHNN có cách nào khác không? (Hint: đọc bài này).


Wednesday, February 16, 2011

Effective rate


Ông Lê Đức Thúy và một số chuyên gia cho rằng lần phá giá vừa rồi sẽ ít có ảnh hưởng vào lạm phát vì thực tế tỷ giá giao dịch trong thời gian qua đã phản ánh mức phá giá này rồi. Điều này có nghĩa là từ trước đến nay effective rate đã cao hơn official rate khoảng 8.5% và lần phá già này chỉ có ý nghĩa xóa chênh lệch đó. Các doanh nghiệp từ trước tới giờ đằng nào cũng đã sử dụng effective rate trong giao dịch.

Tuy nhiên lập luận của ông Thúy ngầm định một assumption là effective rate sẽ không tăng nữa. Nếu việc dịch chuyển official rate (phá giá 8.5%) làm effective rate gia tăng thì lần phá giá này vẫn sẽ có tác động vào lạm phát. Như vậy vấn đề là assumption của ông Thúy có đúng hay không, liệu NHNN có bảo vệ được mức official rate mới hay không. Chỉ NHNN và/hoặc ông Thúy mới biết được câu trả lời chính xác, còn những người "ngoài cuộc" như tôi và các bạn thì chịu khó đợi một thời gian nữa sẽ biết.


Tuesday, February 15, 2011

FX conventions


Nhà báo Nguyễn Vạn Phú thắc mắc về việc các báo nước ngoài đưa tin về vụ phá giá vừa rồi của VN đăng 3 con số khác nhau: 9.3%, 8.5% và 7%. Báo chí VN đa số viết 9.3% (=20693/18932-1), một số nói đúng đó là tỷ lệ "điều chỉnh tỷ giá của 1 USD", nghĩa là đồng USD "lên giá" 9.3% (chứ không phải VNĐ "mất giá" 9.3% - sự khác biệt giữa lên giá và mất giá này gọi là "base effect"). Cách nói này tương đương như khi nói giá vàng hay một loại hàng hóa nào đó tăng thêm 10%, ở đây phải hiểu USD, vàng hay một loại hàng hóa nào đó được định giá bằng VNĐ.

Tuy nhiên các báo nước ngoài không sai khi nói VNĐ mất giá 8.5%, đó là vì trên quan điểm của một người Mỹ 1 VNĐ có giá 0.00005282 USD (=1/18932) trước khi phá giá nay còn 0.00004833 USD (=1/20693). Theo convention của giới kinh tế, khi nói một đồng tiền bị phá giá thì tỷ giá phải tính theo số USD cần để mua một đơn vị nội tệ. Con số 8.5% (=[1/20693]/[1/18932]-1) là số chính xác khi nói về VNĐ bị phá giá (dấu âm được ngầm hiểu trong trường hợp phá giá). Tất nhiên quyết định phá giá là của nhà nước nên phải dùng tỷ giá chính thức do nhà nước công bố (official rate), tỷ giá chợ đen hay tỷ giá đã tính đến biên độ giao dịch không phải tỷ giá chính thức. Do đó nếu nói VN phá giá 7% (tính theo tỷ giá ở biên độ tối đa) thì không đúng theo convention này.

Ngược lại với convention của giới kinh tế, market convention đối với đa số các đồng tiền trên thế giới là quote giá của 1 USD bằng nội tệ (trừ tỷ giá của một số đồng tiền như Euro, Bảng Anh, đô Úc...). Do vậy kết hợp cả 2 convention nói trên thì phải nói VN phá giá nội tệ 8.5% từ 18932 xuống 20693. Tương tự như vậy, ví dụ của anh Phú sẽ là VN phá giá 50% đồng nội tệ từ 20K xuống 40K (ngầm hiểu là từ 1/20 xuống còn 1/40).

Một market convention nữa trên thị trường FX là cách viết các cặp ngoại tệ. Trong trường hợp VNĐ khi nói tỷ giá là 20693 có nghĩa là 20693 VNĐ/1 USD, hay VNĐ/USD. Nhưng market convention phải viết là USDVND. Tương tự như vậy, EURUSD có nghĩa là số USD cần để mua 1 Euro, hay USDJPY là số yên Nhật cần để mua 1 USD.


Update (18/2): Bác Nguyễn Văn Tuấn cũng đề cập đến 2 con số 9.3 và 8.5%. Đề nghị của bác Tuấn dùng số trung bình hay chuyển sang log return thay vì arithmetic return là một cách các nhà kinh tế đã dùng lâu nay vì sự thuận tiện của nó. Tuy nhiên convention trong giới tài chính (không phải academic) và kế toàn vẫn là arithmetic return.


Monday, February 14, 2011

Egypt


1.
Trong khi rất nhiều báo/đài/blogs khen ngợi quân đội Egypt thực sự là ... "quân đội nhân dân" vì họ không bắn vào các đoàn biểu tình như quân đội TQ tại Thiên An Môn 22 năm trước, chương trình Planet Money của NPR đưa ra một cách giải thích khác rất ... "kinh tế".

Theo các tác giả của Planet Money, sở dĩ quân đội Egypt không "mạnh tay" với lực lượng biểu tình vì đó là "khách hàng" của họ. Planet Money đặt tên lóng cho lực lượng vũ trang Ai cập là "Egypt's Military Inc." vì trên thực tế hầu hết các ngành công nghiệp của nước này đều có bàn tay và sở hữu của quân đội: utility (điện, nước, gas), xe hơi, đồ gia dụng, thậm chí cả lương thực thực phẩm. Nếu quân đội nổ súng vào "khách hàng" của mình hoặc có những hành động đẩy Egypt vào khủng hoảng sâu và lâu hơn, họ sẽ bị thiệt hại nặng về kinh tế. Một rò rỉ (qua Wikileak) từ năm 2008 đã cho rằng quân đội sẽ ủng hộ bất kỳ ai thay thế Mubarak, miễn là chính quyền đó không động tới quyền lợi kinh tế của giới quân sự. Nếu giả thuyết này đúng có lẽ vấn đề cho quân đội làm kinh tế sẽ được một số nước quan tâm nhiều hơn trong thời gian tới.

2.
Một bài viết đặc biệt trên một trong những non-econblog favorite của tôi. Yasser El Hadari, một nha sĩ trẻ trong một gia đình trung lưu Cairo, viết lại những suy nghĩ của mình sau 18 ngày tham gia cuộc biểu tình lật đổ Mubarak. Ngoài những việc rất dũng cảm như đối mặt với mật vụ chìm, đứng trong bức tường người che chắn cho một trong những activist nổi tiếng, Hadari đã tham gia vào một đội "dân quân tình nguyện" tự đứng ra bảo vệ an ninh cho khu phố của mình khi hàng ngàn tội phạm (do vô tình hay cố ý) thoát ra khỏi các nhà tù của thủ đô Cairo trong khi lực lượng cảnh sát có nhiệm vụ bảo vệ trật tự trị an hoàn toàn "biến mất". Một hoạt động tuy âm thầm và sẽ không được lịch sử nhắc đến như trang Facebook/Twitter của Wael Ghonim nhưng có lẽ đã góp phần không nhỏ giúp cho cuộc biểu tình đi đến thắng lợi cuối cùng.

Một số trích đoạn từ bài viết:

"Of course there were those who wanted the revolution to stop simply because they were afraid. And their fear was genuine: there was a threat of chaos, economic collapse, and now foreign military intervention. It was easier of course to dismiss these fears as cowardly or stupid, but the harder thing to do, that in the end gained respect, was appreciating these fears, and helping them understand that freedom came at a high price, and how any short-term losses were worth it. Their disagreement wasn’t a personal attack, and one of the best speakers I knew made a point of letting listeners know that the disagreement wasn’t personal."

"While Muslim protesters were attending Friday Prayers, Christians formed a human wall to protect them. On Sunday when Christian protesters performed Mass, Muslims stood watch to protect them. There was no slurring in the protests. People who attended were of different races, religions, and social backgrounds; black and white, Muslim and Christian, rich and poor, we stood together. If people deep down inside had a certain hatred for others due to these differences, the protests helped them replace this hatred with understanding. In the end we were all the same. We were all Egyptian, and we all wanted freedom."

"Nearby dictators promised to support the regime. We heard rumors that the US Navy sent the fifth or sixth fleet and the Israeli Defense Force was grouping at the border. It didn’t matter. We were fighting for our rights, and we were ready to face anyone who interfered. The people weren’t afraid of losing what they had, they are winning something greater. When people aren’t afraid of losing, they are free, and great men can only be free men who build great countries."



Friday, February 11, 2011

The Economist Top 5


The Economist khảo sát trên 50 economists uy tín xem (i) ai là nhà kinh tế có ảnh hưởng nhất (most influential) trong thập kỷ vừa qua, và (ii) ai là nhà kinh tế có ý tưởng quan trọng nhất (most important ideas) sau khủng hoảng.

Top 5 của câu hỏi (i):
1 Ben Bernanke
2 John Maynard Keynes
3 Jeffrey Sachs
3 Hyman Minsky
3 Paul Krugman

Top 5 của câu hỏi (ii):
1. Raghuram Rajan
2. Robert Shiller
2. Kenneth Rogoff
4. Barry Eichengreen
4. Nouriel Roubini


Cá nhân tôi nếu được vote sẽ chọn Ben Bernanke cho câu (i) và Simon Johnson Paul Volcker cho câu (ii) [Update: có lẽ Paul Volcker không được tính là economist]. Nếu TBKTSG hay VNE làm một survey tương tự ở VN thì top 5 sẽ có những ai? Lê Đăng Doanh, Phạm Chi Lan, Lê Xuân Nghĩa, Võ Trí Thành, Trần Đình Thiên?


AER Top 20


Từ blog Krugman: AER vừa kỷ niệm 100 năm thành lập và chọn ra 20 bài báo quan trọng nhất trong lịch sử của mình, cũng là lịch sử của kinh tế học hiện đại. Thú thực (hơi xấu hổ) trong top 20 này có 4 bài tôi không hề biết (1, 10, 12, 19), 5 bài có biết nhưng chưa bao giờ đọc (2, 3, 9, 17, 20). Còn lại, ngoại trừ 3 bài (4, 8, 18) đã đọc đi đọc lại cẩn thận, 8 bài kia chỉ xem lướt qua một lần như tài liệu tham khảo. Khi nào có thời gian tôi sẽ đọc lại top 20 này (links đến bản online từng bài có trong bài tóm tắt tôi link bên trên) và sẽ cố gắng tóm tắt/review lại. Nếu bạn nào đã/sẽ đọc 1 trong những bài trong top 20 này và đã/sẽ viết review, blog kinhtetaichinh sẽ rất hân hạnh được đăng lại hoặc link đến bài review của bạn.


Top 20

1. Alchian, Armen A., and Harold Demsetz. 1972. “Production, Information Costs, and Economic Organization.” American Economic Review, 62(5): 777–95

2. Arrow, Kenneth J. 1963. “Uncertainty and the Welfare Economics of Medical Care.” American Economic Review, 53(5): 941–73

3. Cobb, Charles W., and Paul H. Douglas. 1928. “A Theory of Production.” American Economic Review, 18(1): 139–65

4. Deaton, Angus S., and John Muellbauer. 1980. “An Almost Ideal Demand System.” American Economic Review, 70(3): 312–2

5. Diamond, Peter A. 1965. “National Debt in a Neoclassical Growth Model.” American Economic Review, 55(5): 1126–5

6. Diamond, Peter A., and James A. Mirrlees. 1971. “Optimal Taxation and Public Production I: Production Efficiency.” American Economic Review, 61(1): 8–27.
Diamond, Peter A., and James A. Mirrlees. 1971. “Optimal Taxation and Public Production II: Tax Rules.” American Economic Review, 61(3): 261–7

7. Dixit, Avinash K., and Joseph E. Stiglitz. 1977. “Monopolistic Competition and Optimum Product Diversity.” American Economic Review, 67(3): 297–30

8. Friedman, Milton. 1968. “The Role of Monetary Policy.” American Economic Review, 58(1): 1–1

9. Grossman, Sanford J., and Joseph E. Stiglitz. 1980. “On the Impossibility of Informationally Efficient Markets.” American Economic Review, 70(3): 393–40

10. Harris, John R., and Michael P. Todaro. 1970. “Migration, Unemployment and Development: A Two-Sector Analysis.” American Economic Review, 60(1): 126–4

11. Hayek, F. A. 1945. “The Use of Knowledge in Society.” American Economic Review, 35(4): 519–3

12. Jorgenson, Dale W. 1963. “Capital Theory and Investment Behavior.” American Economic Review, 53(2): 247–5

13. Krueger, Anne O. 1974. “The Political Economy of the Rent-Seeking Society.” American Economic Review, 64(3): 291–30

14. Krugman, Paul. 1980. “Scale Economies, Product Differentiation, and the Pattern of Trade.” American Economic Review, 70(5): 950–5

15. Kuznets, Simon. 1955. “Economic Growth and Income Inequality.” American Economic Review, 45(1): 1–2

16. Lucas, Robert E., Jr. 1973. “Some International Evidence on Output-Inflation Tradeoffs.” American Economic Review, 63(3): 326–3

17. Modigliani, Franco, and Merton H. Miller. 1958. “The Cost of Capital, Corporation Finance and the Theory of Investment.” American Economic Review, 48(3): 261–97

18. Mundell, Robert A. 1961. “A Theory of Optimum Currency Areas.” American Economic Review, 51(4): 657–65.

19. Ross, Stephen A. 1973. “The Economic Theory of Agency: The Principal’s Problem.” American Economic Review, 63(2): 134–39.

20. Shiller, Robert J. 1981. “Do Stock Prices Move Too Much to Be Justified by Subsequent Changes in Dividends?” American Economic Review, 71(3): 421–36