Monday, July 28, 2014

Philippines vs China



Có lẽ một trong những lý do quan trọng đến giờ này VN vẫn không/chưa "kiện"[1] TQ ra một tòa án quốc tế là VN đang chờ kết quả vụ kiện của Philippines. Rất có thể lãnh đạo VN đang hi vọng Philippines sẽ thắng vụ kiện này để VN có thể "ăn theo" mà không phải trực tiếp đối đầu với "ông anh cộng sản" của mình. Quả thực vụ kiện giữa Philippines và TQ sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến ván cờ trên Biển Đông, không chỉ trên mặt trận pháp lý giữa hai nước này. Rất tiếc thông tin chi tiết về vụ kiện ít được phổ biến ở VN[2] và ngay cả ở Philippines báo chí cũng đưa tin không chính xác. Tuy nhiên vụ kiện này được khá nhiều luật gia quốc tế quan tâm và bình luận vì nó vừa là một case rất thú vị vừa liên quan đến một điểm nóng trên thế giới. Trong bài này tôi sẽ "múa rừu qua mắt các luật gia" tổng kết lại một số thông tin tôi cóp nhặt được về vụ kiện, chủ yếu từ các nguồn quốc tế, và đưa ra một số nhận định cá nhân về tác động của nó với cuộc đối đầu Việt-Trung trên BĐ.


Giải quyết tranh chấp theo UNCLOS

Trước khi nói về vụ kiện Philippines vs China (PvsC) cần nhắc lại một số qui định của UNCLOS về vấn đề giải quyết tranh chấp giữa các thành viên. Theo Article 287 (Section 2, Part XV) thành viên UNCLOS có 4 phương án giải quyết tranh chấp: (a) ITLOS (Annex VI), (b) ICJ, (c) tòa trọng tài theo Annex VII, (d) một tòa trọng tài đặc biệt theo Annex VIII (cho các tranh chấp liên quan đến đánh cá, môi trường, nghiên cứu khoa học, giao thông hàng hải)[3]. Sau khi phê chuẩn công ước, các thành viên có quyền chọn một (hoặc nhiều hơn) trong 4 phương án giải quyết tranh chấp nói trên. Nếu một thành viên chưa tuyên bố lựa chọn, hình thức trọng tài (phương án c) sẽ được áp dụng khi có tranh chấp phát sinh. Vì tất cả các nước liên quan đến tranh chấp BĐ-HS-TS chưa tuyên bố chọn phương án giải quyết tranh chấp nên phương án (c) là giải pháp duy nhất.

Liên quan đến việc giải quyết tranh chấp, điều khoản này của UNCLOS vừa rất chặt chẽ nhưng cũng vừa rất lỏng lẻo. Rất chặt vì nó qui định mọi tranh chấp liên quan đến UNCLOS đều buộc phải đem ra phân xử (compulsory settlement) theo một trong bốn phương án nói trên nếu hai bên không tự đàm phán được với nhau. Ngay cả trong trường hợp một bên tranh chấp không chịu đem ra phân xử tại tòa, bên còn lại vẫn có thể khởi kiện và tòa hoặc trọng tài vẫn có thể phán xử dù chỉ có một bên tham gia. Phán quyết của tòa hoặc trọng tài, bất kể cả hai bên tham gia hay chỉ có một bên kiện còn bên kia tẩy chay như vụ PvsC hiện tại, sẽ là phán quyết cuối cùng (final) và bắt buộc (binding). Nghĩa là sau khi tòa hoặc trọng tài đã đưa ra phán quyết các bên không thể kháng án và có nghĩa vụ phải thi hành để tuân thủ cam kết với UNCLOS[4].

Rất lỏng lẻo, hay nói chính xác hơn là UCLOS đã mở một cửa hậu cho các thành viên né các qui định chặt chẽ bên trên, vì theo Article 298 sau khi trở thành thành viên các nước có quyền tuyên bố miễn trừ (opt-out) các qui định bắt buộc trong Article 287 cho 3 loại tranh chấp: (a) liên quan đến phân chia ranh giới biển theo điều 15, 74, và 83, (b) liên quan đến cách hoạt động quân sự, tuần tra biển, (c) liên quan đến các phán quyết của Hội đồng Bảo an LHQ. Điều này có nghĩa là một thành viên không thể kiện một thành viên khác nếu tranh chấp rơi vào một trong 3 lĩnh vực nói trên và phía bị kiện đã tuyên bố opt-out trước đó. Trên thực tế rất nhiều nước đã opt-out, vd Australia, Canada, India, Denmark, France, Italy, Mexico, Norway, Korea, Russia, Spain, Thailand, UK. Mỹ chưa phê chuẩn UNCLOS nhưng nếu có nhiều khả năng cũng sẽ opt-out.

Tôi không rõ lịch sử của Article 298 này thế nào, có lẽ trong quá trình đàm phán UNCLOS các cường quốc biển đã đưa điều khoản này vào để tránh bị vướng vào kiện tụng sau này vì họ đã/đang tuyên bố chủ quyền với những vùng biển/đảo có khả năng bị tranh chấp cao (vd UK muốn bảo vệ claim với mỏm đá Rockall, Mỹ với quần đảo Howland and Baker, Đan mạch với đảo Greenland). Có thể thấy hầu hết các nước opt-out là những quốc gia lớn, có thực lực đủ để tranh chấp và bảo vệ biển đảo của mình, trong khi những nước opt-in là những nước nhỏ/yếu thế phải dựa vào các biện pháp pháp lý. Trường hợp TQ khá thú vị, nước này phê chuẩn UNCLOS năm 1996 nhưng phải 10 năm sau (2006) mới tuyên bố opt-out. Rất có thể trong 10 năm đầu TQ còn cân nhắc khả năng kiện Nhật về quần đảo Senkaku (nước nào đã opt-out sẽ mất quyền khởi kiện), nhưng sau này TQ đã đủ mạnh và cho rằng bảo đảm quyền lợi trên Biển Đông quan trọng hơn nên đã opt-out để tránh bị kiện tụng. Tôi đoán Philippines đã rất nuối tiếc không kiện TQ trước năm 2006.


Đánh giá của giới luật gia quốc tế về PvsC

Chính vì TQ đã opt-out theo Article 298, một số luật gia cho rằng Philippines không thể kiện. GS luật biển Myron Nordquist (UVA) cho rằng vụ kiện PvsC "bizarre" (kỳ quái) và "futile" (không đi đến đâu). GS StefanTalmon (Uni of Bonn) khẳng định PCA không có thẩm quyền phân xử (jurisdiction) vì đây là tranh chấp giới hạn biển theo các điều 15, 74, 83 mà TQ đã opt-out[5]. Tuy nhiên GS Julian Ku  (Hafstra University) không đồng ý với Nordquist và Talmon, ông đã chỉ ra rằng khi phê chuẩn UNCLOS TQ dù có opt-out hay không cũng đã chấp nhận Part XV và Annex VII. Mà theo Article 288(4) chỉ có hội đồng trọng tài mới có quyền đánh giá liệu những điểm Philippines khởi kiện có được miễn trừ vì tuyên bố opt-out của TQ hay không. Nói cách khác TQ, nếu tuân thủ đúng cam kết như một thành viên UNCLOS, buộc phải tham dự phiên tòa rồi cãi rằng tôi đã opt-out nên đề nghị tòa ngừng xử. Hành vi tẩy chay hoàn toàn phiên tòa như TQ đang làm là trái với qui định của UNCLOS[6].

GS Robert Beckman (NUS)[7] từ năm 2011 và GS Harry Roques (University of the Philippines) cũng lập luận tương tự. Một câu hỏi đặt ra là tại sao TQ lại hành xử như vây? GS Alex Calvo (European University) đưa ra một số lý do giải thích việc TQ không muốn ra tòa. Thứ nhất TQ luôn muốn đàm phán song phương để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ, chiến thuật bẻ nắm đũa mà nhiều người đã chỉ ra. Khi ký DOC với ASEAN năm 2002 TQ đã đạt được mục tiêu đưa yêu cầu đàm phán song phương vào DOC. Do vậy họ cho rằng Philippines đã vi phạm DOC khi lôi vụ việc ra tòa. Thứ hai với lịch sử từng là một cường quốc rồi bị phương Tây "làm nhục", TQ không muốn phải tuân lệnh một tòa án phương Tây. Năm 1947 chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đã từng từ chối Pháp đem tranh chấp HS ra một trọng tài quốc tế cũng vì tâm lý đó. Thứ ba bản thân TQ hiểu đường 9 đoạn của mình không phù hợp với luật pháp quốc tế và nếu một phán quyết được đưa ra nhiều khả năng sẽ không có lợi cho TQ.

Tuy nhiên những lý do nói trên không đủ giải thích được tại sao TQ không tham gia vào vụ xử rồi biện luận tòa không có thẩm quyền (jurisdiction) vì mình đã opt-out. Julian Ku cho rằng mặc dù lập luận opt-out của TQ khá mạnh nhưng các cơ sở pháp lý khác của TQ, vd đường 9 đoạn, rất mập mờ. Bởi vậy theo tôi nếu TQ tham gia tranh tụng để rồi bác jurisdiction của tòa, TQ sẽ buộc phải làm rõ quan điểm và cơ sở pháp lý của những khái niệm tù mù mà họ vẫn rêu rao trước đó. Điều này có 2 điểm bất lợi cho TQ: có khá năng bị lật mặt là không phù hợp với luật pháp quốc tế và sẽ là tiền lệ để các nước khác đang có tranh chấp với TQ viện vào trong các vụ kiện sau này. Các lãnh đạo TQ cũng sợ rằng bản thân việc tham gia phiên tòa dù chỉ để cãi về jurisdiction cũng làm yếu đi vị thế của mình, ít nhất trong mắt dân TQ.

Nhưng có lẽ lý do quan trọng nhất là TQ sợ thua ngay từ vòng tranh biện về jurisdiction. Một điểm rất quan trọng mà Robert Beckman đã chỉ ra là chính hội đồng xét xử/hội đồng trọng tài là người quyết định về jurisdiction của họ (điều 288). Tất nhiên các trọng tài quốc tế phải công tâm nhưng họ sẽ không tránh khỏi có bias nhất định. Theo qui định của Annex VII, mỗi bên tranh chấp được quyền đề cử một trong tài của mình rồi hai bên thỏa thuận 3 trọng tài trung lập và một người trong số đó sẽ là chủ tịch hội đồng. Nếu 2 bên không thỏa thuận được thì chủ tịch ITLOS sẽ đứng ra chỉ định. Vấn đề là chủ tịch hiện tại của ITLOS là Shunji Yanai, một thẩm phán người Nhật. Trong bối cảnh tranh chấp Trung-Nhật cũng đang nóng, TQ có lý do để lo ngại thẩm phán Yanai sẽ chỉ định 3 trọng tài có lợi cho Philippines, vd thẩm phán Budislav Vukas, cựu phó chủ tịch ITLOS, một người có quan điểm chống lại EEZ cho các đảo/bãi đá. Vai trò của Shunji Yanai sẽ được phân tích thêm bên dưới.

Cũng theo Beckman phạm vi opt-out trong Article 298 khá hạn chế, các thành viên vẫn có thể tìm những nội dung không bị giới hạn bởi điều 298 để kiện và do vậy TQ có thể sẽ không cãi được vấn đề jurisdiction và phải theo kiện đến cùng dù đã opt-out[8]. Vậy chính xác Philippines, với một đội ngũ luật sư và chuyên gia luật quốc tế khá hùng hậu, đã kiện những nội dung nào và liệu những vấn đề đó có lách được điều 298 hay không? Theo LS Francis Jardeleza, đại diện của chính phủ Philippines tại tòa trọng tài xử vụ PvsC, có 4 nội dung được đưa ra kiện: (i) đường 9 đoạn của TQ không có cơ sở pháp lý do vậy vô hiệu (invalid), (ii) một số bãi đá ngầm trong hoặc ngoài EEZ của Philippines không nằm trên thềm lục địa của TQ, do vậy dù TQ đã xây dựng các công trình nhân tạo trên đó TQ cũng không thể clain chủ quyền biển theo UNCLOS, (iii) một số bãi đá khác cao hơn mặt biển khi thủy triều cao nhất cũng chỉ là "đá" theo Ariticle 121 chứ không phải "đảo" nên chỉ được chủ quyền 12 hải lý, (iv) TQ đã ngăn cản bất hợp pháp các hoạt động đánh bắt cá ở những vùng biển TQ không có chủ quyền.

Không kể GS Stefan Talmon đã nhắc đến bên trên, theo Phó GS Dapo Akande (Oxford) mặc dù Philippines đã cố tình tránh không đề cập đến các phạm vi chủ quyền trên biển của họ và của TQ để lách điều 298, những nôi dung này không ít thì nhiều sẽ đụng chạm đến ranh giới biển. Do vậy Philippines không dễ thuyết phục được hội đồng trọng tài họ có jurisdiction. TS Ian Forsyth (Jamestown Foundation) cũng cho rằng hội đồng trọng tài có thể từ bỏ jurisdiction nếu TQ chứng minh được quan điểm các nội dung Philippines nêu ra có liên quan đến ranh giới biển, nghĩa là bị điều phối bởi điền 298. Một điểm nữa mà phía TQ đã nêu ra là Philippines phải có nghĩa vụ giải quyết song phương với TQ theo DOC 2002, việc kiện ra tòa như vậy rõ ràng vi phạm cam kết trong DOC và do vậy tòa không có jurisdiction. Ngoài ra theo chính UNCLOS Philippines phải có nghĩa vụ tìm cách đàm phán, hòa giải với TQ trước khi đi kiện. Dù Philippines tuyên bố họ đã tìm cách đàm phán với TQ trong 17 năm liên tục mà không có kết quả, tòa cũng có thể phủ quyết jurisdiction trên cơ sở Philippines chưa tìm mọi cách đàm phán song phương hoặc TQ đã/đang đề nghị Philippines quay lại bàn đàm phán nhưng Philippines từ chối.

Khách quan mà nói lập luận của Philippines không hoàn toàn vững chắc và một phiên tòa công bằng rất có thể sẽ nghe theo biện hộ của phía TQ từ chối jurisdiction. Nhưng vấn đề là TQ đã tẩy chay phiên tòa ngay từ đầu nên trừ khi họ đổi ý hội đồng trọng tài sẽ chỉ nghe lập luận một phía từ Philippines. Tôi nghĩ rằng đây chính là tính toán của người Phi, họ tin chắc TQ sẽ không theo vụ kiện nên đã rất tự tin khởi kiện bất chấp sức ép/đe dọa của TQ. Đây cũng là nhận định của Sean Mirski (Lawfare) cho rằng với Philippines quan trọng là chọn thời điểm và nơi kiện chứ không hẳn là các lập luận pháp lý.


Tính toán của Philippines

Một nước cờ rất khôn ngoan của Philippines là đưa đường 9 đoạn vào hồ sơ kiện. Thoạt nhìn kiện đường 9 đoạn rõ ràng là một nội dung liên quan đến ranh giới biển, điều mà TQ đã opt-out. Tuy nhiên đường 9 đoạn là điểm yếu nhất về mặt pháp lý của TQ nên đưa nội dung này vào là một cách ngăn chặn TQ tham gia vụ kiện từ đầu. Cá nhân tôi cho rằng chính phủ TQ hiện "há miệng mắc quai" về vấn đề đường 9 đoạn. Họ biết cả về mặt lịch sử lẫn công pháp quốc tế TQ không thể biện hộ một cách thỏa đáng về claim này. Nhưng vì đã tuyên truyền quá nhiều trong quá khứ nên họ không dễ gì rút lại được mà không làm dân TQ nổi giận. Chiến thuật của các lãnh đạo TQ hiện nay là cứ đá quả bóng này cho những lớp lãnh đạo sau này giải quyết, trong khi cứ mù mờ về nó và tìm mọi cách tránh không phải giải thích gì với thế giới. Philippines hiểu điều này nên đã tin chắc TQ sẽ không theo kiện.

TQ đã bỏ qua 2 mốc đầu tiên của vụ xử: 21/2/2013 (chỉ định trọng tài của mình) và 27/8/2013 (ý kiến về dự thảo qui trình phân xử). Ngày 15/12/2014 tới sẽ là mốc TQ phải nộp phản hồi của mình (memorial) về các lập luận của Philippines (đã nộp ngày 30/3/2014). Sau ngày này tòa sẽ tổ chức tranh biện (hearing) bất kể TQ có gửi phản hồi hay không. Nếu TQ chỉ gửi một Note Verbale với các lập luận y như những lần trước phủ nhận vụ kiện thì coi như Philippines đã thắng bước đầu. Trong vài tháng sau đó tòa sẽ thảo luận và ra quyết định vấn đề jurisdiction. Mặc dù thuần túy về mặt pháp lý lập luận của phía Philippines (các nội dung kiện không bị miễn trừ bởi TQ đã opt-out) chưa đủ mạnh như đã trình bày bên trên, một số yếu tố bên ngoài có thể sẽ giúp họ.

Đầu tiên phải kể đến hình ảnh của TQ đã xấu đi đáng kể sau vụ đặt giàn khoan HD-981 trong EEZ của VN. Dù công tâm đến mấy các trọng tài cũng phải thấy mục đích và hậu quả của việc TQ opt-out theo điều 298 là để tạo thuận lợi cho chính sách bành trướng trên Biển Đông bất chấp pháp luật quốc tế. Thêm vào đó vấn đề đường 9 đoạn của TQ phi lý đến mức một học giả đã thốt lên nếu UNCLOS không loại bỏ được nó thì UNCLOS còn có thể làm được điều gì. Người này còn đi xa hơn cho rằng những nghị sĩ Mỹ có tư tưởng isolationism không muốn phê chuẩn UNCLOS sẽ viện dẫn sự bất lực của tòa án trong việc gạt bỏ đường 9 đoạn là lý do để Mỹ tiếp tục đứng ngoài hiệp ước này. UNCLOS đã từng bị Nga không đếm xỉa gì khi phớt lờ phán quyết của ITLOS trong vụ bắt giữ một chiếc tàu Greenpeace của Hà lan năm 2013, nếu lần này cũng bất lực với TQ thì công ước này thực sự vô tác dụng và có thể tan vỡ[9].

Một đe dọa khác đến quyền lực của UNCLOS cũng xuất phát từ một quan điểm của TQ, nói chính xác hơn từ một số học giả bênh TQ, có thể thấy từ cuộc tranh luận Mark Valencia vs Phạm Quang Tuấn (và sau đó thêm Dương Danh Huy tham gia). Trong lập luận này (phe) TQ cho rằng đường 9 đoạn và khái niệm historical rights của TQ có từ trước khi UNCLOS ra đời. Bởi vậy việc phê chuẩn UNCLOS của TQ phải hiểu là có bao hàm loại trừ những vấn đề lịch sử trước đó, cũng có nghĩa việc opt-out theo điều 298 giúp cho TQ giữ các historical rights này. GS Phạm Quang Tuấn chỉ ra một điểm cực kỳ nguy hiểm của lập luận này, không chỉ với VN và các nước có tranh chấp trên Biển Đông mà còn với toàn bộ quyền lực cũng như mục đích của UNCLOS. Nếu công ước này phải xếp sau những historical rights thì điều này sẽ mở ra một "Pandora's box" với vô số các cuộc tranh giành đất đai, hải đảo giữa các nước. Điều này chắc chắn sẽ phá vỡ hoàn toàn một trật tự "tương đối công bằng" mà UNCLOS đang cố gắng thiết lập.

Yếu tố khách quan cuối cùng là việc chủ tịch ITLOS hiện tại là người Nhật như đã đề cập bên trên. Một trong 4 trọng tài được Shunji Yanai chỉ định ban đầu là thẩm phán Pinto người Sri Lanka đã phải từ chức vì vợ ông là người Philippines cho thấy Yanai có thể đã nghiêng về phía Philippines khi chỉ định thẩm phán này. Người thay thế thẩm phán Pinto là cựu chủ tịch ITLOS Thomas Mensah (Ghana) và ba trọng tài còn lại từ Pháp, Ba Lan và Hà lan khó đánh giá mức độ trung lập nhưng tôi nghi ngờ Yanai chọn ai đó thân hoặc có quan điểm ủng hộ TQ. Còn trọng tài thứ năm do Philippines chỉ định, Rudiger Wolfrum người Đức, chắc sẽ ủng hộ phía Philippines. TQ có vẻ cũng thấy bị bất lợi nên đã ra sức PR, thậm chí đẩy Xue Hanqui, một thẩm phán người TQ tại ICJ, lên tiếng bảo vệ quan điểm opt-out của TQ dù đây là điều tối kị với một thẩm phán quốc tế. Nhà báo Chito Sta. Romana (Philippines) đã từng lo ngại thẩm phán TQ Gao Zhiguo tại ITLOS sẽ ảnh hưởng lên quyết định của các trọng tài khác, tôi nghĩ Shunji Yanai chắc chắn có tiếng nói và ảnh hưởng lớn hơn Gao Zhiguo hay Xue Hanqui.

Tóm lại về mặt tổng thể tôi cho rằng cán cân đang ngả về phía Philippines, cả trong cuộc chiến thuyết phục hội đồng trọng tài về jurisdiction lẫn những nội dung kiện sau đó. Tất nhiên đường còn dài và có thể có nhiều bất ngờ xảy ra. Một đe dọa cho Philippines (và cả VN) như GS Alex Calvo lo ngại là TQ có thể sẽ rút khỏi UNCLOS khi bị dồn vào chân tường và lu loa lên họ bị phương Tây xử ép. Đây có thể là một trong những kết cục của vụ kiện này mà tôi sẽ phân tích trong phần dưới đây.


Những kết cục có thể xảy ra

Phương án đầu tiên là Philippines thua ngay từ "vòng gửi xe", nghĩa là đầu năm 2015 tòa tuyên bố họ không có jurisdiction và giải tán. Hiển nhiên đây sẽ là một cú tát với Philippines và cả VN, đập tan mọi khả năng/ý chí kiện tụng chống lại TQ sau này bằng con đường pháp lý. TQ có thể sẽ thừa thắng xông lên hung hăng hơn trên Biển Đông đuổi dần các nước khác ra khỏi đường 9 đoạn. Nếu VN và Philippines bị đẩy vào bước đường cùng có thể một liên minh quân sự sẽ được thành lập với Nhật, Mỹ và có thể Ấn độ, Úc đúng đằng sau hoặc trực tiếp tham gia. Một cuộc chạy đua vũ trang sẽ diễn ra giữa các nước trong vùng với TQ. Rủi ro đụng độ quân sự tăng lên sẽ làm ngưng trệ các hoạt động kinh tế trên Biển Đông và ảnh hưởng các tuyến hàng hải trên đó. Đây sẽ là phương án lose-lose cho cả hai phía.

Tôi nghĩ TQ sẽ thừa đủ khôn ngoan để không đẩy các đối thủ của mình vào chân tường dù giành thắng lợi trong vụ kiện. Nhiều khả năng TQ nhân đà chiến thắng sẽ ép VN/Philippines và các nước ASEAN ký một COC với nhiều điều kiện có lợi hơn cho TQ. Song song với COC TQ sẽ ép VN và Philippines ký các hiệp định song phương phân chia EEZ rất có lợi cho họ và/hoặc các thỏa thuận khai thác chung mà TQ sẽ được phần lợi nhiều nhất. Tất nhiên TQ cũng thừa khôn ngoan không ép VN và Philippines từ bỏ claim chủ quyền với HS-TS mà sẽ yêu cầu giữ status quo sau khi đã đạt được các thỏa thuận kinh tế. Kịch bản này dễ xảy ra với VN hơn, Philippines với một thể chế dân chủ và ít ra còn dựa được vào Mỹ sẽ khó bị thuyết phục/đe dọa như VN.

Cũng tương tự như vậy nếu Philippines thắng vòng tranh tụng jurisdiction nhưng thua toàn bộ các nội dung kiện thì TQ sẽ lấn tới như phương án đầu. Điểm khác biệt duy nhất là cửa kiện tụng không hoàn toàn đóng lại với cả Philippines lẫn VN, bởi vậy TQ sẽ khó ép hơn. Tuy nhiên, như đã phân tích bên trên, cả hai phương án này đều làm suy yếu uy tín và quyền lực của UNCLOS nên triển vọng kiện tụng sau này sẽ rất mù mờ, phương án lôi TQ ra kiện về chủ quyền HS-TS tại ICJ có khó khăn hơn nữa.

Phương án tiếp theo là Philippines thắng vòng tranh tụng jurisdiction rồi thắng luôn toàn bộ hoặc một số nội dung kiện. Thừa thắng xông lên cả Philippines và VN sẽ lôi TQ ra ICJ kiện về chủ quyền HS-TS, đồng thời ASEAN sẽ đưa ra một phương án COC vô cùng bất lợi cho TQ. Như đã đề cập bên trên TQ có thể phản ứng rất cực đoan rút khỏi UNCLOS, DOC 2002, đồng thời gia tăng những hoạt động đe dọa chủ quyền VN và Philippines vì không còn bị rằng buộc gì. Phương án này cũng sẽ dẫn đến một cuộc chạy đua vũ trang và khả năng hình thành liên minh quân sự đối đầu với TQ. Căng thẳng leo thang sẽ là một tình huống lose-lose như phương án đầu tiên.

Nên nhớ TQ là một nước lớn nên việc "giữ thể diện" quan trọng đối với họ. Tôi cho rằng phương án tốt nhất cho Philippines (và VN được "ăn theo") là Philippines chỉ thắng nội dung (i) về đường 9 đoạn. Trong đó tòa tuyên bố đường 9 đoạn không phù hợp với bất kỳ điều khoản nào của UNCLOS nên yêu cầu TQ không được sử dụng nó trong các cuộc đàm phán về ranh giới biển với các nước láng giềng. Điều này tưởng như đã vi phạm vào nội dung mà TQ đã opt-out nhưng thực ra không phải vậy. Tòa vẫn tôn trọng nội dung opt-out của TQ và yêu cầu các nước phải đàm phán song phương với TQ về vấn đề ranh giới biển, trong đó có phân chia EEZ trồng lấn. Nhưng tòa tuyên bố các claim hiện nay của TQ về historical rights không có giá trị nên đường 9 đoạn coi như không hiện hữu theo UNCLOS. Thực ra đây có thể là lối thoát cho các lãnh đạo TQ rũ bỏ được legacy của đường 9 đoạn mà không bị mang tiếng là đầu hàng ASEAN và phương Tây.

Phương án cuối cùng mà cũng rất có khả năng xảy ra là Philippines thắng vòng tranh tụng jurisdiction rồi dừng lại. Nên nhớ Philippines chấp nhận bỏ tiền bạc, công sức, và nhất là căng thẳng với TQ khi khởi kiện hoàn toàn vì quyền lợi của họ chứ không phải vì VN hay các nước ASEAN khác. Bởi vậy nếu TQ nhượng bộ nhả bớt một số quyền lợi cho Philippines thì nước này có thể chấm dứt vụ kiện giữa chừng sau khi đạt được mục đích. TQ có thể sẽ "đi đêm" hoặc thỏa thuận công khai phân chia EEZ với Philippines, thậm chí ký hợp đồng cùng khai thác chung với phần ăn chia có lợi cho Philippines. Hai bên sẽ đồng ý gác lại vấn đề chủ quyền của các đảo và bãi đá ngầm đang tranh chấp. VN tất nhiên không "ăn theo" được gì trong phương án này trừ khi Philippines ép được TQ ký COC với ASEAN.

Nếu phương án này xảy ra và TQ "buông" Philippines nhưng vẫn tiếp tục chèn ép VN, chúng ta chỉ còn một con đường lôi TQ ra kiện giống Philippines. Ngoại trừ lợi thế án lệ của PvsC sẽ có lợi cho phần tranh tụng jurisdiction, vụ kiện VN vs TQ sẽ khó khăn hơn vì TQ sẽ có nhiều bài hơn. Chắc chắn "công hàm" Phạm Văn Đồng 1958 sẽ bị lôi ra cùng nhiều chứng cứ khác. Lần này TQ cũng có thể theo vụ kiện ngay từ đầu với một giàn luật sư/chuyên gia mạnh để áp đảo VN trong phần tranh tụng. Kết quả khả quan nhất mà VN có thể đạt được nếu không muốn thua trắng là một thỏa thuận ngoài tòa để chấm dứt sớm vụ kiện như Philippines. Nhưng chắc chắn VN sẽ không đạt được nhiều nhượng bộ từ TQ như Philippines và cũng phải chấp nhận treo lại vấn đề chủ quyền HS-TS.


Kết luận

Vụ kiện PvsC đã tạo ra một chấn động không chỉ trong giới luật gia mà cả vùng Đông-ĐNÁ. Nói theo GS Julian Ku đây là "game charger", nghĩa là một cú hích có thể làm đổi hướng bức tranh BĐ-HS-TS trong khu vực và cả tranh chấp Senkaku giữa Nhật và TQ. Những liên minh mới có thể hình thành, những hiệp định mới có thể được ký kết, thậm chí đụng độ quân sự có thể xảy ra sau phán quyết của tòa trọng tài. Cho đến thời điểm này VN vẫn chơi bài "wait and see", dù có thể vẫn đang âm thầm chuẩn bị hồ sơ khởi kiện nhưng lại rất hi vọng Philippines sẽ thắng tuyệt đối để mình được "ăn theo" mà không phải làm gì. Theo tôi đây không phải phương án tốt nhất cho VN. Chúng ta nên khởi kiện ngay cả trước khi trọng tài vụ PvsC tranh biện jurisdiction. Mục tiêu và cách thức kiện của VN có thể sẽ khác Philippines, đó là một "mặt trận thứ hai" cùng Philippines chống lại TQ. Tôi sẽ là viết về vấn đề này trong một entry tới.



Ghi chú
[1]: Tôi để chữ kiện trong ngoặc vì khái niệm này không đơn giản như đa số người Việt nghĩ. Tôi sẽ viết về vấn đề này trong một entry tiếp theo.
[2]: Tôi chỉ tìm thấy hai bài tương đối chi tiết của trọng tài VN Châu Huy Quang trên TBKTSG và của nhà báo Danh Đức trên TT.
[3]: Khác biệt quan trọng nhất giữa phương án xử tại một tòa cố định (ITLOS/ICJ) với tại một tòa trọng tài (Annex VII) là với tòa cố định hội đồng xét xử đã được định trước (vd ITLOS có 21 thẩm phán thường trực) trong khi các bên có thể chỉ định hội đồng trọng tài cho mình nếu xử theo Annex VII. Ngoài ra tòa án cố định đã có qui trình xử án chuẩn còn qui trình xử của trọng tài được 2 bên tranh chấp thỏa thuận sau khi hội đồng trọng tài được thành lập. Do vậy hai bên có thể thỏa thuận xử kín, không công bố thông tin và chi tiết phiên tòa, không như xử tại tòa án cố định luôn được công khai.
[4]: Julian Ku, giáo sư luật tại Hafstra University, cho rằng ngay cả nếu TQ tham dự phiên tòa trọng tài tại PCA nước này vẫn có khả năng tuyên bố không chấp nhận phán quyết của hội đồng trọng tài nếu bị xử thua, nghĩa là phán quyến này không có tính chất binding. Lập luận này phù hợp với các phân xử trọng tài thông thường nhưng theo tôi không đúng trong trường hợp UNCLOS.
[5]: Trong phần comment về bài của Stefan Talmon, Huy Duong (Dương Danh Huy?) đồng ý với lập luận của Talmon rằng tranh chấp giữa Philippines và TQ liên quan đến ranh giới biển. Update: Anh Dương Danh Huy cho biết ý anh không phải như vậy, xem cụ thể trong phần comment bên dưới.
[6]: Mặc dù cả Annex VI lẫn Annex VII đều có qui định về trường hợp một bên không theo kiện, nhưng điều đó không có nghĩa UNCLOS cho phép thành viên được quyền tẩy chay một vụ kiện do một thành viên khác khởi xướng theo đúng điều 287.
[7]: GS Robert Beckman có 2 bài, bài hoàn chỉnh link bên trên, một bài viết chi tiết hơn về UNCLOS ông yêu cầu không tự do trích dẫn nên tôi chỉ để link ở đây cho những ai quan tâm.
[8]: GS Julian Ku cho rằng TQ có thể rời bỏ vụ xử giữa chừng sau khi tòa tuyên bố họ có jurisdiction. Tuy nhiên điều này còn gây tiếng xấu cho TQ hơn là không theo ngay từ đầu.
[9]: TS Mark Valensia lại lập luận ngược lại. Ông này cho rằng nếu tòa chấp nhận jurisdiction và xử cho Philippines thắng thì UNCLOS sẽ mất uy tín vì kiểu gì TQ cũng sẽ không tuân lệnh tòa.




Wednesday, July 9, 2014

Stein Tonnesson vs Pham Quang Tuan



Có ba nhóm học giả quốc tế chính nghiên cứu về BĐ-HS-TS. Thứ nhất là các chuyên gia về political science/international relation (vd Greg Austin, John Collins, Ang Cheng Guan, Jeanette Greenfield, Sam Bateman, Ralf Emmers), bao gồm cả các nhà Việt Nam học (Carl Thayer, Jonathan London). Thứ hai là các chuyên gia luật quốc tế (Robert Beckman, Monique Chemillier-Gendreau, Christopher Joyner, Erik Franckx, Choon Ho Park). Cuối cùng là các nhà sử học (David Marr, Marwyn Samuels, Philippe Devillers, Stein Tonnesson). Còn một nhóm thứ tư là các chuyên gia quân sự nhưng họ ít khi xuất đầu lộ diện. Tất nhiên phân chia như vậy chỉ là tương đối vì một chuyên gia có thể biết và viết về nhiều lĩnh vực, nhất là khi nghiên cứu về tranh chấp BĐ-HS-TS hầu như chuyên gia nào cũng đụng chạm đến lịch sử và công pháp quốc tế.

Trong ba nhóm nói trên nhóm đầu đông nhất và có nhiều bài vở nhất, nhưng họ phải thường xuyên trích dẫn secondary sources, nghĩa là họ phải dựa vào công trình của hai nhóm sau (luật và sử) là những người tiếp xúc và phân tích trực tiếp các bằng chứng primary (luật, án luật, tư liệu lịch sử, phỏng vấn nhân chứng...). Trong số các nhà sử học Stein Tonnesson là một cái tên được trích dẫn khá nhiều trong các bài nghiên cứu về BĐ-HS-TS gần đây. Ông là tác giả của hai quyển sách về lịch sử VN trong giai đoạn 1944-1946, là những công trình nghiên cứu công phu hàng chục năm (từ khi ông làm luận án thạc sĩ năm 1981), và hàng loạt bài viết về tranh chấp BĐ-HS-TS. Dù Tonnesson còn viết về Thailand và một số đề tài khác, có thể nói học giả này là một nhà sử học + Việt Nam học.

Vì là người "ngoại đạo" nên tôi chỉ biết đến tên Stein Tonnesson (ST) sau "vụ Sam Bateman". Tôi đã cố gắng liên hệ với ông để hỏi ý kiến về HS-TS nhưng ông không/chưa trả lời. Sau khi Google rất kỹ cái tên này tôi tình cờ phát hiện ra một cuộc tranh luận khá căng thẳng giữa Tonnesson và GS Phạm Quang Tuấn (PQT) từ năm 2011. Cuộc tranh luận này còn có sự tham gia của TS Lê Văn Út (Phần lan) và Stein Tonnesson đã chủ động copy thư trao đổi với PQT/LVU cho GS Su Hao (Đại học Ngoại giao TQ). Toàn bộ các email tranh luận được đưa lên website này (bản dịch tiếng Việt ở đây). Đọc kỹ cuộc tranh luận ST-PQT tôi lờ mờ hiểu tại sao Tonnesson không muốn tranh luận một lần nữa với một kẻ ngoại đạo như tôi. Chắc ông đã nhận ra rằng những người VN (hay Philippines, hay Malaysia) email cho ông chủ yếu để tìm sự ủng hộ quan điểm chống TQ mà ông luôn cố gắng giữ trung lập dù ông có thể có cảm tình với VN.

Trước khi đi vào phân tích cuộc tranh luận có lẽ cần nói thêm về GS Stein Tonnesson, một người Na-uy có quan tâm về VN từ rất sớm trong sự nghiệp học thuật của mình. Quyển sách Vietnam 1946: How the war began của ông xuất bản năm 2009 đã từng được trang web của Đảng Cộng Sản viết bài giới thiệu. Quyển sách này sau đó (2013) đã được nhà xuất bản Sự thật dịch sang tiếng Việt. Một bài review tiếng Việt rất công phu của tác giả Vũ Tường trên Talawas cho thấy Vietnam 1946 được chính quyền VN hoan nghênh vì tác giả cho rằng phần lỗi lớn thuộc về phía Pháp đã gây ra cuộc chiến Việt-Pháp 1946-1954. Tonnesson còn tham gia khá nhiều hội thảo về VN, có một bài viết về Hiến pháp 1946 rất chi tiết. Gần đây nhất ông trả lời phỏng vấn báo Thanh Niên về vụ tranh luận Sam Bateman-Dương Danh Huy/Phạm Quang Tuấn, tỏ ý chê Sam Bateman trong khi khen DDH/PQT. Tóm lại tôi đánh giá đây là một học giả nước ngoài khá thân thiện với VN nếu không muốn nói có quan điểm "bênh" VN trong các nghiên cứu của mình.

Quay lại cuộc tranh luận ST-PQT, chủ điểm xoay quanh vấn đề đường chữ U (đường 9 đoạn/lưỡi bò) mà TQ vẽ trên các bản đồ của mình từ năm 1947. Tại một hội thảo về Biển Đông tại HN tháng 11/2011 Stein Tonnesson lập luận rằng đường chữ U chỉ có thể hiểu theo nghĩa TQ muốn tuyên bố tất cả các đảo/bãi đá trong vùng biển bên trong chữ U này thuộc về TQ. Còn cách hiểu của đa số mọi người là TQ claim toàn bộ vùng biển giới hạn bởi đường chữ U là sai. GS Phạm Quang Tuấn cho rằng lập luận của Tonnesson "chạy tội" cho TQ và dẫn chứng quan điểm của một học giả TQ (GS Su Hao) cũng trong hội thảo đó cho thấy cách hiểu của TQ vẫn là nước này đòi hỏi chủ quyền cho toàn bộ Biển Đông chứ không phải chỉ có các đảo. Trong một bài phỏng vấn với đài RFA sau đó GS Tuấn đã tỏ ý nghi ngờ Stein Tonnesson thiên vị TQ và TQ sẽ lợi dụng lập luận của ông để khẳng định chủ quyền của mình trên Biển Đông. Lập luận của GS Tuấn cũng tương tự như một bài báo của Philippines mà tôi trích dẫn mấy hôm trước.

Đến đây cần làm rõ khái niệm đường chữ U là gì và giá trị pháp lý của nó như thế nào. Cho đến thời điểm cuộc hội thảo ở HN tháng 11/2011 TQ chỉ một lần duy nhất công bố chính thức bản đồ có đường chữ U cho một tổ chức quốc tế năm 2009 (trong Note Verbale phản đối CLSC Submission của VN và Malaysia) với ngôn ngữ rất mập mờ. TQ chưa bao giờ công bố tọa độ chính xác và nói rõ ý định của đường chữ U là gì mà chỉ nói chung chung họ có đầy đủ bằng chứng lịch sử về chủ quyền vùng biển bên trong chữ U. Tất nhiên TQ có chủ ý khi cố tình mập mờ như vậy để mọi người tự hiểu. Tuy nhiên các học giả quốc tế, nhất là các chuyên gia luật, khi phân tích các tranh chấp và giải pháp cho BĐ-HS-TS buộc phải giả định cơ sở pháp lý của đường chữ U thì mới đánh giá được TQ và các nước khác đúng hay sai. Ở đây cần nhấn mạnh các học giả đó (cả Tonnesson) đưa ra những giả định không có nghĩa họ ủng hộ hay phản đối claim của TQ về đường chữ U.

Giả định của Tonnesson là TQ chỉ claim các đảo bên trong đường chữ U chứ không phải toàn bộ vùng biển đó được nhiều học giả đồng tình, bao gồm cả các học giả "nghiêm túc" người TQ như GS Zhiguo Gao. Đơn giản vì theo UNCLOS ranh giới trên biển không phụ thuộc vào historical rights là điều mà TQ vẫn rêu rao. Với giả định này Tonnesson đã thẳng thừng bác bỏ khả năng TQ có chủ quyền trên vùng biển bên trong chữ U, đây là quan điểm có lơi cho VN. Ngay trong bài viết cho hội thảo tại HN năm 2011 Tonnesson khẳng định vị trí tàu Bình Minh bị TQ cắt cáp nằm trong EEZ của VN cũng là hệ quả của giả định nói trên. Tương tự như vậy vị trí giàn khoan HD-981 hoàn toàn nằm trong EEZ của VN bất kể đảo Triton thuộc về ai nếu đảo này không có thềm lục địa và EEZ (nhiều khả năng như vậy).

Rất tiếc GS Phạm Quang Tuấn và TS Lê Văn Út đã quá vội vàng phê phán giả định này của Tonnesson. Hơn thế nữa Tonnesson cho rằng trong khi TQ chưa chính thức công bố claim toàn bộ Biển Đông (đảo + biển bên trong chữ U) mà VN và các nước khác vội vã kết luận như vậy thì sẽ có lợi cho TQ vì lái dư luận quốc tế theo hướng ngầm hiểm toàn bộ Biển Đông đang bị tranh chấp. Thay vì tập trung vào việc giải quyết chủ quyền đảo HS-TS và các khu vực EEZ bị trồng lấn, các học giả VN bị cuốn vào cuộc tranh luận về đường chữ U mà chắc chắn sẽ không đi đến đâu. Lập luận của GS Tuấn rằng VN và các nước trong khu vực không thể bỏ qua vấn đề đường chữ U vì như vậy là ngầm chấp nhận nó cũng không chính xác. Một khi TQ chưa công bố rõ ràng đường chữ U là gì (claim, tọa độ) thì nó hoàn toàn không có cơ sở pháp lý trong các phiên tòa quốc tế.

Cơ sở pháp lý cũng không thể được tuyên bố từ các bài nghiên cứu/phát biểu của các học giả TQ như GS Su Hao. Tôi đồng ý với GS Phạm Quang Tuấn là những người như Su Hao là "mouthpiece" của chính phủ TQ nhưng cần phân biệt các dạng tuyên truyền phi chính thức thông qua báo chí và học giả như TQ đang làm với tuyên bố chủ quyền chính thức từ chính phủ. Cho dù Su Hao và các học giả TQ khác có nói thế nào đi nữa đó chỉ là quan điểm cá nhân và chỉ có giá trị thông tin chứ không có giá trị pháp lý. Cho đến thời điểm này (7/2014) TQ vẫn chưa claim chính thức vùng biển trong đường chữ U. Bức thư gửi UN ngày 8/6/2014 BNG TQ vẫn chỉ khẳng định giàn khoan HD-981 nằm ngoài vùng EEZ của VN còn các bài báo của các đại sứ TQ ở một số nước cũng chỉ tuyên bố địa điểm này nằm trong contiguous zone của đảo Triton. TQ không hề dựa vào đường chữ U để phản đối VN. Vậy nên ngay từ năm 2012 Tonnesson đã khuyên một việc VN cần làm là yêu cầu ICJ/PCA xác định các đảo ở HS-TS có được thềm lục địa và EEZ hay không, giống như khuyến cáo gần đây của TS Tạ Văn Tài.

Điểm cuối cùng trong cuộc tranh luận ST-PQT là lý do tại sao TQ cố tình mập mờ về đường chữ U. Theo Tonnesson có thể có mấy cách giải thích sau: (a) TQ biết điều đó quá vô lý nhưng đã lỡ tuyên truyền trong nước như vậy rồi nên không thể rút lại đường chữ U và đành phải để nó mập mờ; (b) các cơ quan quản lý và lãnh đạo TQ chưa thống nhất được phương án claim chính thức; (c) các lãnh đạo cao nhất của TQ không hiểu rõ luật quốc tế và bỏ qua lời khuyên của giới học giả; (d) vấn đề Biển Đông dính dáng đến Đài loan và TQ muốn giải quyết vấn đề ĐL trước; (e) dọa các nước láng giềng về ý đồ bành trướng toàn bộ Biển Đông để các nước phải nhượng bộ trong các cuộc đàm phán khác; (f) chờ thời đến khi TQ đủ mạnh sẽ thực sự chiếm toàn bộ Biển Đông bất chấp luật pháp quốc tế. GS Phạm Quang Tuấn và có lẽ phần đông người Việt (trong đó có tôi) chỉ tin vào phương án (f).

Sự kiện tàu Bình Minh bị cắt cáp năm 2011, rồi qui định đánh bắt cá của chính quyền đảo Hải Nam năm 2013 và các cuộc bắt bớ đâm tàu cá VN, gần đây nhất là vụ giàn khoan HD-981 cho thấy phương án (f) có vẻ có lý. TQ có âm mưu lâu dài độc chiếm Biển Đông và họ sẽ sử dụng sức mạnh quân sự khi có thể. Điều duy nhất tôi không đồng ý với GS Stein Tonnesson trong cuộc tranh luận này là quan điểm của ông cho rằng TQ có incentive và có lợi giữ gìn hòa bình/ổn định lâu dài trong khu vực theo tinh thần Tôn Tử. Chính Tonnesson cho rằng vị trí tàu Bình Minh bị cắt cáp nằm trong EEZ của VN và hành động của TQ không phải là tranh chấp mà là xâm lược (aggression) đáng phải đưa ra UN Security Council. Việc TQ tiếp tục lấn tới trong những năm sau cho thấy chiến thuật "tằm ăn rỗi" bất chấp luật pháp quốc tế chứ không phải vì sĩ diện. Hi vọng Tonnesson đã "tỉnh ngộ" không còn mơ hồ về một nước TQ "yêu chuộng hòa bình" nữa.


Update: Tôi đã nhận được thư trả lời của GS Stein Tonnesson


Monday, May 26, 2014

Capital IV


[Tôi đang viết Capital III nhưng vụ số liệu trong C21C do Chris Giles phát hiện ra quá nóng nên tạm dừng III viết IV trước :-)]


Weekend vừa rồi Chris Giles, một editor của FT, viết một bài báo và một blog entry chỉ ra một số vấn đề về số liệu trong quyển sách đình đám C21C của TP. Bài trên báo viết nhẹ nhàng hơn, so sánh lỗi số liệu của C21C với vụ lỗi trong bảng tính Excel của Rogoff & Reinhart năm ngoái. Trong khi đó bài trên blog buộc tội TP khá nặng, cho rằng nhà kinh tế này đã bịa số liệu (from thin air) và điều chỉnh số liệu (randomly and undocumented) để đạt được kết luận chính của quyển sách. Sau khi sửa lại những lỗi của TP và tính toán lại wealth inequality cho một số nước/khu vực, Chris Giles khẳng định kết luận của C21C không còn đúng nữa. Lời buộc tội này như vậy nặng hơn rất nhiều những gì R&R bị chỉ trích.

Nhưng khác với vụ R&R, ngay khi bài báo của Chris Giles được đưa lên mạng và được một số báo/trang mạng khác trích dẫn, một loạt phản hồi theo hướng bênh vực TP xuất hiện. Đáng kể nhất (cho đến thời điểm này) là phản hồi của The EconomistJustin Wolfers. Cả hai phản hồi này và những phản hồi của các tác giả khác (Paul Krugman, James Hamilton, Neil Irwin) đều cho rằng phát hiện của Chris Giles không ảnh hưởng đến kết luận chính của C21C, i.e. sự bất bình đẳng về của cải (wealth) đã gia tăng trong giai đoạn 1970 đến nay và điều này là tất yếu của capitalism.

Bài của The Economist cho rằng Chris Giles chưa có đủ bằng chứng cho các buộc TP bịa số liệu và các hiệu chỉnh mà TP làm trong C21C là cần thiết (nhưng đúng là TP cần giải thích rõ ràng). Phần lớn số liệu trong C21C không có vấn đề gì, những lỗi mà Chris Giles chỉ ra thực ra chỉ là một phần nhỏ của quyển sách chứ không phải central theme như Giles cáo buộc. Justin Wolfers thẳng thừng cho rằng Chris Giles đã "provocative" và cho rằng động cơ của cáo buộc này là chính trị hơn là học thuật. Dĩ nhiên tất cả các tác giả bênh vực TP nói trên đều là những người thiên tả và không loại trừ khả năng họ bênh vì quan điểm chính trị. Trong khi đó hiện mới có Tyler Cowen (thiên hữu) lên tiếng ủng hộ phê phán của Chris Giles, nhưng cũng khá dè dặt. Chắc vài ngày tới cánh hữu sẽ có nhiều tiếng nói hơn.

Bản thân TP đã có phản hồi chính thức (đăng trên blog của Chris Giles), mặc dù thừa nhận rằng bộ số liệu mà mình xây dựng còn phải hoàn thiện thêm nhưng khẳng định kết luận của C21C không sai. TP cũng ngầm phản bác lại cáo buộc của Giles về việc bịa và hiệu chỉnh số liệu bằng lập luận toàn bộ số liệu và technical appendix của quyển sách đã được công khai trên web. Đáng tiếc là TP chưa trả lời trực tiếp một số vấn đề mà Chris Giles nêu ra, vd gõ số liệu của Thụy điển sai, lựa chọn năm so sánh cho các nước tùy tiện, hiệu chỉnh số liệu mà không giải thích, hay cherry pick các bộ số liệu có lợi cho kết luận của mình. Hi vọng TP sẽ viết một "giải trình" chi tiết hơn trong thời gian tới, cuộc thảo luận chi tiết giữa TP và Chris Giles sẽ rất đáng theo dõi.

Cá nhân tôi, dù không có thời gian kiểm tra số liệu trong C21C như Chris Giles và những người khác, không ủng hộ các cáo buộc của Chris Giles về độ tin cậy của số liệu và nhất là việc TP manipulate số liệu. Quyển sách này là một công trình nghiên cứu hơn 10 của TP và một số nhà kinh tế khác, nếu có lỗi trong việc thu thập và sửa chữa số liệu thì đã bị những chuyên gia khác chỉ ra rồi. Một kết luận quan trọng có ý nghĩa rất lớn đến chính sách kinh tế dài hạn gần như cho toàn thế giới (tư bản) không dễ gì đạt được thông qua việc manipulate số liệu (trong hơn 10 năm trời). So sánh với bài của R&R năm ngoái, chỉ là một working paper (không có peer review) và chưa hoàn chỉnh, C21C đã được kiểm chứng và xác nhận bởi nhiều tác giả và công trình nghiên cứu khác.

Một criticism nghiêm túc phải xem xét các bài báo và nghiên cứu liên quan của TP rồi mới có thể kết luận quyển C21C đã đưa ra kết luận sai. Rất có thể nhiều điểm "khó hiểu" trong C21C đã được TP giải thích/trình bày trong các nghiên cứu đó. Chris Giles chưa làm điều này, và chắc sẽ không làm vì tôi nghi ngờ động cơ của nhà báo này là muốn tạo ra một vụ scandal R&R thứ hai (mà mình là hero) chứ không hẳn Giles có academic interest về vấn đề này. Thực tế những phê phán nặng ký hơn với C21C đều từ các nhà kinh tế (academic) có khả năng sẽ làm lung lay C21C. Tôi sẽ viết về các criticisms này trong một entry tới.


Tuesday, May 13, 2014

HD-981


Cách đây ngót nghét 20 năm khi tôi mới vào ngành dầu khí, có một sự kiện trong ngành làm tôi rất thắc mắc. Lúc đó ONGC, công ty dầu khí quốc gia Ấn độ, bán lại đặc quyền khai thác một số lô dầu khí ngoài khơi VN cho các công ty nước ngoài. Những quyền này trước đó được Tổng cục dầu khí (tiền thân của PVN) giao cho ONGC với giá rất rẻ nên họ đã "hời to" khi chẳng phải làm gì mà thu được một mớ tiền. Nói theo ngôn ngữ hiện nay là ONGC chạy được và bán lại dự án trên giấy mà chẳng phải đầu tư gì cả.

Điều đáng nói là phía VN lúc đó không những không phàn nàn gì mà thậm chí còn đứng ra giàn xếp cho ONGC đàm phán với các đối tác nước ngoài khác để đẩy nhanh tiến độ. Tôi đem thắc mắc này hỏi một vài đồng nghiệp có thâm niên thì được giải thích rằng giai đoạn cuối thập kỷ 80 - đầu 90 VN còn bị cấm vận nên các công ty dầu khí phương Tây chưa thể vào VN đấu thầu quyền thăm dò khai thác. Nhưng lúc đó VN cần phải "cắm mốc chủ quyền" thật nhanh bằng các hoạt động thăm dò khai thác offshore, ONGC gần như là lựa chọn duy nhất (bên cạnh Zarubezhneft của Nga đã ký liên doanh Vietsovpetro và bắt đầu khai thác Bạch Hổ). Do vậy dù biết ONGC sẽ chẳng làm gì vì họ không có thực lực, phía VN buộc phải giao quyền thăm dò khai thác một số lô cho ONGC trong cuộc chạy đua với TQ khi nước này còn khá yếu và vẫn bị dư âm của sự kiện Thiên An Môn.

Những năm sau đó chiến thuật "cắm cột mốc chủ quyền" bằng cách giao quyền thăm dò khai thác cho các công ty dầu khi nước ngoài đã được cả hai bên sử dụng khi chưa đủ sức tự làm. VN giao cho Mobil, TQ giao cho Creston, nhưng cả hai công ty tư bản này đều "rét" khi tầu chiến của VN và TQ hiện diện. Họ nhận thăm dò khai thác hoàn toàn vì mục đích thương mại nên chẳng dại gì làm công cụ cho VN hay TQ trong cuộc tranh chấp lãnh hải.

Không nhờ được nước ngoài, VN giao cho PVN xây dựng các giàn DK gần khu vực Trường Sa, tuy nhiên năng lực của PVN chỉ làm được giàn cố định ở các khu vực nước nông (100-200m). Trong khi đó CNOOC của TQ với thực lực mạnh hơn nhắm đến các vùng nước sâu (>1000m), là phần lớn cái "lưỡi bò" mà họ tự vẽ, với giàn semi-submersible HD-981. Tôi tin là phía VN/PVN đã theo dõi sát sao quá trình đóng HD-981 và thừa biết thời điểm TQ đem nó xuống Biển Đông đã cận kề.

Đầu năm 2014 nói chuyện vói một insider của PVN tôi được biết phía VN đã cố tìm đối tác triển khai thăm dò khai thác ở các vùng tranh chấp với TQ (nước sâu). Tuy nhiên chỉ có Nga có khả năng tham gia, cả về mặt công nghệ lẫn khả năng đối đầu với TQ nếu có đụng độ. Rất không may cho VN, sự kiện Ukraine xảy ra đã đẩy Nga và TQ lại gần nhau quá nhanh và hiển nhiên Putin đã chọn ngả về phía TQ thay vì VN, cho dù có thể nói VN là quốc gia "thân Nga" vào bậc nhất thế giới. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu Putin biết trước việc TQ kéo HD-981 xuống Biển Đông và cuộc tập trân Nga-Trung hoàn toàn không phải tình cờ.

Không dựa được vào Nga, Ấn độ thì 20 năm rồi vẫn chưa đủ mạnh để trở thành đối trọng với TQ, ASEAN chia rẽ như truyền thống vốn có của tổ chức này, VN chỉ còn một con đường ngả về phía Mỹ nếu không muốn bị TQ nuốt trọn Biển Đông. Từ hơn 20 năm trước VN đã hiểu rằng tự mình không thể chống được mộng bành trướng của ông anh phương Bắc và cần phải có đồng minh thay thế Liên Xô đang sụp đổ.

Ở thời điểm hiện tại bằng mọi giá VN phải đuổi được HD-981 ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của mình, nếu không bước tiếp theo của TQ sẽ là kéo HD-981 đi khắp Biển Đông dù có khoan được dầu hay không. Ngả về phía Mỹ như thế nào tôi không biết, nhưng nếu VN back down khỏi TPP thì đó chắc chắn là dấu hiệu Biển Đông sẽ mất. Nếu đợt đàm phán TPP tới tiến triển tốt, tôi tin không quân/hải quân VN sẽ sớm xuất đầu lộ diện ở khu vực HD-981.

Thursday, April 24, 2014

Capital II


Tôi sẽ không viết review quyển "Capital in the 21st Century" (sau đây sẽ viết tắt là C21C) của Thomas Piketty (TP), có quá nhiều bài review rồi và chắc chắn tôi không thể viết hay bằng những cây bút nổi tiếng như Paul Krugman, Robert Solow, Tyler Cowen, hay Nguyễn Vạn Phú (danh mục các bài review tôi sưu tập được có trong entry Capital trước). Tuy nhiên vì vẫn muốn "ăn theo" nên tôi sẽ viết một số entry, không phải review mà là viết lại những suy nghĩ/nhận xét của tôi khi đọc quyển sách này.


1.
Tôi đã có lần đề cập đến Angus Maddison, một nhà kinh tế mà tôi rất kính trọng về công trình thu thập số liệu kinh tế thế giới trong hơn 1000 năm qua của ông. Thomas Piketty (TP) trong quyển sách của mình cũng nhắc đến Maddison nhiều lần, tôi nghĩ không hẳn vì TP sử dụng số liệu mà Maddison thu thập mà còn vì TP cũng có quan điểm giống tôi về vai trò của số liệu lịch sử. Nhưng TP không chỉ thán phục công trình của Maddison mà bản thân ông đã bỏ hơn 10 năm thu thập và xây dựng một bộ số liệu đồ sộ về capital và income để có thể, nói theo cách của nhà báo Nguyễn Vạn Phú, zoom in và zoom out hiện tượng inequality trong hàng trăm năm. Tất cả các reviewer mà tôi đã đọc, dù khen hay chê quyển sách, cũng đều thừa nhận đây là một công trình lớn. Cũng giống như Maddison, tôi cho rằng điều quan trọng nhất mà TP để lại cho nhân loại là bộ số liệu này chứ không phải những qui luật mà ông đã chỉ ra

Vậy tại sao bộ số liệu của TP (và bộ của Maddison - và một mức độ nào đó bộ số liệu Địa bạ của vua Gia Long) lại quan trọng và quí giá như vậy? Có hai lý do chính. Thứ nhất, kinh tế học là một ngành khoa học xã hội mà đặc điểm chung của nhóm ngành khoa học này là số liệu (data) do các hoạt động của con người tạo ra không thể lặp lại như nhiều ngành khoa học tự nhiên khác. Bởi vậy nếu không được ghi nhận và lưu trữ những số liệu đó sẽ mất vĩnh viễn (trừ khi loài người phát minh ra time machine). Càng để lâu khả năng tìm và tập hợp lại số liệu trong quá khứ càng khó khăn, nhất là số liệu trước thế kỷ 20.

Lý do thứ hai là nhiều qui luật kinh tế, xã hội có thể trải dài hàng thế kỷ nên số liệu của các cơ quan thống kê các nước ghi nhận trong khoảng 100 năm lại đây không đủ để phân tích những qui luật đó. Vấn đề inequality là một ví dụ, nếu chỉ có thể zoom out được trong vòng 50-60 năm lại đây, qui tắc Kuznets' curve có thể đúng nhưng khi có số liệu dài hơn TP đã phủ nhận qui luật này. Một ví dụ khác là lý thuyết tỷ giá PPP mà tôi đã có lần nhắc đến. Đa số các nghiên cứu định lượng đều không xác nhận PPP, tuy nhiên điều này có thể đơn giản vì chuỗi số liệu mà những nghiên cứu đó sử dụng chỉ bao trùm 20-30 năm lại đây. Có ý kiến cho rằng để kiểm định được lý thuyết PPP có thể các nhà kinh tế phải đợi để có sample dài hơn 100 năm thì kiểm định mới đủ tin cậy.


2.
Trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, ngành kinh tế học được gọi là political economy. Các nhà kinh tế ít nhiều đều có khuynh hướng triết học và anthropology (nhân chủng học?) muốn đưa ra các phân tích và giải thích cho những vận động kinh tế macro trong xã hội. Họ quan tâm đến các vấn đề vĩ mô như làm thế nào để một quốc gia thịnh vượng (Adam Smith), tại sao international trade lại quan trọng (David Ricardo), tăng trưởng dân số có tác động thế nào đến ổn định kinh tế và xã hội (Thomas Malthus). Karl Marx là một điển hình của các nhà kinh tế trong giai đoạn này, ông đã xây dựng một lý thuyết ở tầm macro giải thích cho sự vận hành của nền kinh tế (tư bản).

Một đặc điểm chung các nghiên cứu/lý thuyết political economy trong giai đoạn này, từ Smith đến Marx, là sự thiếu vắng số liệu macro. Mặc dù một số học giả trong thế kỷ 18-19 đã cố gắng thu thập và xây dựng một số bộ số liệu macro cho một số nền kinh tế (e.g. Anh, Pháp), những số liệu này quá thô sơ và không đầy đủ cho các nghiên cứu political economy lúc đó. Hạn chế về số liệu buộc các học giả phải xây dựng lý thuyết trên các quan sát micro của mình hoặc một vài tác giả khác và/hoặc dựa vào suy luận logic của bản thân. Điều này làm phương pháp luận khoa học của political economy, giống như những ngành khoa học xã hội khác, đi theo hướng positivism, trái ngược với các ngành khoa học tự nhiên (vật lý, hoá học, sinh học) đang phát triển rất mạnh trong giai đoạn đó với nền tảng phương pháp luận theo hướng deductivism (i.e. dựa vào số liệu thực tế để kiểm chứng và xây dựng lý thuyết).

Political economy dịch chuyển dần thành economics trong nửa cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 khi trường phái marginalism dần dần trở thành mainstream. Có không ít giả thuyết cho rằng các nhà kinh tế khi nhìn thấy sự thành công của các ngành khoa học tự nhiên đã muốn áp dụng phương pháp luận khoa học của những ngành này vào kinh tế học. Lý thuyết kinh tế chuyển dịch từ một tập hợp rhetorics sang các mô hình (toán) với các giả định rõ ràng có thể kiểm chứng được bằng số liệu thực tế. Nhưng có lẽ vì số liệu macro thời đó còn rất hiếm nên sự dịch chuyển này dần dần lái focus của kinh tế học từ macro sang micro, lĩnh vực mà số liệu giá cả và tiêu dùng của từng loại hàng hoá riêng lẻ hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh của từng công ty đã tương đối phổ biến.

Sự ra đời của national accounting ở Mỹ trong giai đoạn 1930s rồi lan sang châu Âu sau WWII có lẽ không chỉ là tình cờ mà còn là động lực giúp cho những quan tâm vĩ mô hồi sinh trở lại. Nhiều người cho rằng Keynes là cha đẻ của macroeconomics còn Solow mở đầu cho growth theory, nhưng có lẽ những lý thuyết đó chỉ là sự quay trở lại với những mối quan tâm của political economy trong thế kỷ 18-19 dưới một hình hài khác. Những công trình vĩ mô này ít rhetorics hơn, nhiều mô hình (toán) hơn và có một điểm khác biệt rõ ràng là sử dụng nhiều số liệu macro hơn. Có thể nói kinh tế học với xuất phát điểm là những quan tâm vĩ mô đã phải loay hoay gần một thế kỷ để đợi số liệu.


3.
Số liệu macro trong kinh tế sở dĩ ra đời rất muộn như vậy (trừ một số ngoại lệ đơn giản trong thế kỷ 18-19) vì nó không observable, nghĩa là không thể cân đong đo đếm được trực tiếp. Trong nhiều trường hợp số liệu macro không tồn tại trên thực tế mà chỉ là một "social construct". Lấy ví dụ giá cả của một mặt hàng bất kỳ có thể thay đổi lên xuống và đại lượng này observable. Khi các nhà kinh tế đưa ra khái niệm "lạm phát" họ nói về một đại lượng không tồn tại trong thực tế mà chỉ là một khái niệm lý thuyết được xây dựng nhằm mô tả và giải thích hoạt động của một nền kinh tế (tư bản). Tất nhiên "lạm phát" unobservable nên cơ quan thống kê (hoặc các tổ chức tư nhân) phải tìm cách lượng hóa nó thông qua một số (social) construction như CPI, PPI, hay các loại chỉ số giá macro khác. Bản thân các chỉ số này cũng unobservable, thông thường được tính toán từ tập hợp số liệu (micro) về giá của rất nhiều loại hàng hóa dịch vụ khác.

Điều này có một hệ quả quan trọng là các mô hình/lý thuyết macro có thể nói đến các khái niệm/đại lượng macro khác nhau dù có tên gọi như nhau. Quyển C21C của TP viết về capital, nhiều người so sánh nó với Das Kapital của Marx nhưng về bản chất "capital" trong hai tác phẩm này không nhất thiết là một. James K. Galbraith cho rằng khái niệm capital của Marx rộng hơn nhiều so với capital của TP. Với Marx, capital là một tập hợp các socio-economic & legal relationships đảm bảo cho quyền được quyết định các hoạt động kinh tế trong xã hội (và với mục đích tối thượng là "bóc lột" labor surplus từ những người lao động không có các quyền này). Trong khi đó capital của TP được hiểu theo nghĩa truyền thống của neoclassical economics, i.e. một trong những input của quá trình sản xuất. Tất nhiên việc xác định ownership của capital sẽ đưa hai khái niệm này lại gần nhau nhưng chúng vẫn không thể là một.

Khi Marx viết Das Kapital không chỉ khái niệm capital khác với TP mà số liệu về (physical) capital chi tiết chưa tồn tại, ngoại trừ một số bộ số liệu sơ khai của Petty, de Vauban, hay Giffen. Thời điểm TP viết C21C giá cổ phiếu của hàng triệu công ty được cập nhật từng giây, national accounts của hầu hết các quốc gia được cập nhật hàng quí, chưa kể vô số các cuộc khảo sát vĩ mô không định kỳ. Sự bùng nổ về sồ liệu, cả về lượng lẫn năng lực tính toán, là một thế mạnh của TP so với Marx. Bản thân TP khi mở đầu quyển sách đã tỏ ý phê phán những đại thụ đi trước như Malthus, Ricardo, Marx về những phân tích thiếu vắng số liệu của họ. Việc TP trích dẫn Jane Austen hay Honore de Balzac có thể hàm ý rằng quan sát của những nhà kinh tế cổ điển (thời đại political economy) cũng chẳng "reliable" gì hơn các tác phẩm văn học. Quyển C21C trước hết là một công trình thu thập số liệu công phu, hơn hẳn những tác giả mà TP nhắc đến.

Tuy nhiên một trong những phê phán quan trọng nhất cho C21C mà tôi đã đọc được chính là của James Galbraith về khái niệm capital với một núi data của TP. James Galbraith (con trai của John Kenneth Galbraith) là một nhà kinh tế có khuynh hướng leftwing (như TP) và cũng là một chuyên gia về inequality. Ông cho rằng khi TP (và các nhà kinh tế neoclassical khác) sử dụng khái niệm capital như một input cho quá trình sản xuất, đồng nghĩa với việc phải quantify số liệu capital cho một nền kinh tế, họ buộc phải sử dụng market price để đo lường giá trị của capital. Đây là một điều nguy hiểm vì market price thường xuyên biến động rất xa khỏi intrinsic value (theo nghĩa input value) nên vai trò của capital trong nền kinh tế có thể bị under- hay overvalue. Những cuộc khủng hoảng hay bubble trên thị trường có thể làm các phân tích liên quan đến market price bị méo mó.

Việc sử dụng market price, theo lập luận trong cuộc tranh luận Cambridge-Cambridge nổi tiếng, dẫn đến một vấn đề khác rất nghiêm trọng khi thống kê số liệu macro về capital. Market price trong nhiều trường hợp là present value of expected future incomes. Cứ giả sử expected future incomes đúng (cho một công ty, một thiết bị máy móc, hay một financial instrument), để tính present value người ta sẽ phải giả định một discount factor nào đó. Discount factor trên nguyên tắc là expected return on capital. Điều này dẫn đến một cái vòng luẩn quẩn (recursive) là để tính return on capital TP phải tính tổng giá trị của capital nhưng trước đó lại phải sử dụng discount factor là chính co số return on capital mà mình cần xác định. Tất nhiên TP không ngồi tính market price cho từng loại asset mà thu thập số liệu đó từ các nguồn khác nhau, nhưng những người tính toán các con số đó phải giả định một discount factor nào đó.

[Đào sâu thêm khía cạnh này có thể thấy phê phán của James Galbraith đi vào cốt lõi của lý thuyết general equilibrium. TP có thể "cãi" rằng miễn là GE tồn tại (và duy nhất) market price sẽ phản ánh tất cả các estimation cho discount factors của các bên tham gia thị trường, do vậy sẽ tiệm cận đến equilibrium return on capital. Nói cách khác return on capital là một con số độc lập với các biến động trên thị trường, miễn là thị trường có khuynh hướng quay về trạng thái equilibrium (roots inside the unit circle to be exact, anyone? :-)), sử dụng market price để tính aggregate capital không bị mâu thuẫn như Galbraith chỉ ra.]



Tuesday, April 22, 2014

Chocolate


Trong dịp Easter vừa rồi Felix Salmon tweet đồ thị sau về mối quan hệ giữa số lượng tiêu thụ chocolate bình quân đầu người của một quốc gia với số giải Nobel (trong 10 triệu dân) mà quốc gia đó đạt được:



Thoạt nhìn tôi nghĩ đây là một đồ thị marketing của các hãng sản xuất chocolate đang tồn hàng Easter, nhưng hóa ra theo Business Insider đây là kết quả của một bài nghiên cứu nghiêm túc đăng trên tạp chí New England Journal of Medicine, có lẽ là một trong những tạp chí hàng đầu về y khoa trên thế giới. Business Insider còn tìm được link của bản pdf miễn phí của bài nghiên cứu này và tôi không thể không đọc thử xem tác giả đã làm thế nào.

Hóa ra bài nghiên cứu vô cùng đơn giản. Tác giả download số liệu Nobel laureates per capita từ Wikipedia (bao gồm cả giải Nobel hòa bình) và số liệu chocolate consumption per capita từ website của một số công ty sản xuất chocolate rồi chạy linear regression. Kết quả là correlation của hai biến số này rất cao (có thể thấy qua đồ thị trên) và highly significant. Tác giả cho rằng (dù rào trước đón sau rất nhiều) ăn nhiều chocolate sẽ làm tăng cognitive function vì chocolate có chứa nhiều chất flavonoids, do vậy làm tăng khả năng được giải Nobel.

Bất kỳ ai đã từng học qua một khóa econometrics sẽ thấy nghiên cứu này có nhiều vấn đề. Thứ nhất như chính tác giả đã thừa nhận correlation không phải causation, nhiều khả năng số giải Nobel và lượng chocolate consumption đều cùng do một yếu tố thứ ba quyết định, dễ thấy nhất là kinh tế (vd GDP per capita). Những yếu tố khác có thể ảnh hưởng lên số Nobel prize đáng ra tác giả phải control có thể là tỷ lệ đầu tư cho giáo dục, nghiên cứu, số lượng sinh viên đại học trên 1000 dân, số lượng bài báo khoa học hoặc patent, số lượng tiêu thụ các thực phẩm khác có hàm lượng flavonoids cao...

Thứ hai số lượng giải Nobel và chocolate consumption chắc chắn thay đổi theo thời gian. Ví dụ cụ thể là Thụy điển vài thập kỷ gần đây được rất ít giải Nobel so với khi giải này mới được thành lập. Bởi vậy sử dụng số liệu giải Nobel trong toàn bộ lịch sử (stock variable) so sánh với số lượng consumption của một năm (flow variable) đòi hỏi phải có một assumption là stock variable phân bổ đều theo thời gian còn flow variable không thay đổi, khó có thể đúng trên thực tế. Một người có cognitive function tốt (nên có khả năng được giải Nobel cao hơn) phải ăn nhiều chocolate lúc nhỏ, khi đi học, lúc làm nghiên cứu hay khi nào?

Thứ ba nếu ăn chocolate làm tăng cognitive ability thì một số kiểm chứng đơn giản hơn có thể thực hiện như chạy regression giữa lượng chocolate consumption với kết quả PISA, sẽ chính xác hơn so với số giải Nobel. Ngoài ra thay vì nghiên cứu "macro" như vậy tác giả có thể tiến hành nghiên cứu "micro", nghĩa là so sánh số lượng tiêu thụ chocolate của từng cá nhân được giải Nobel (hoặc những người có thành tực khoa học cao như các giáo sư đại học) so với mức tiêu thụ trung bình. Tất nhiên làm nghiên cứu micro như vậy sẽ tốn kém và mất thời gian hơn so với việc download data từ Internet và chạy linear regression, nhưng một bài báo trên NEJE phải như vậy mới xứng đáng chứ. Hay tạp chí này không thực sự tốt như tôi tưởng?


Thursday, April 10, 2014

Capital


Cuối cùng Paul Krugman đã viết xong bài review cho quyển "Capital in the 21st century" của Thomas Piketty. Trước đó The Economist cho rằng quyển sách này quan trọng như Das Kapital của Karl Marx, còn Krugman đánh giá: "This is a book that will change both the way we think about society and the way we do economics."

Tôi đã đọc gần chục bài review về quyển này (và đang đọc nguyên bản nhưng chưa biết khi nào xong vì quyển này gần 700 trang). Nhìn chung phe tả khen ngợi hết lời ngoại trừ James K. Galbraith, còn phe hữu thì coi đây như một lời kêu gọi "đấu tranh giai cấp" mới của thế kỷ 21. Thực ra phe hữa chưa có nhiều review, tôi cực kỳ trông đợi review hoặc ý kiến của Lucas và Ferguson (một số cái tên đáng trông đợi khác là Solow, Romer, Becker) . Nhắc đến Lucas tôi nhớ đến 2 câu trích dẫn rất nổi tiếng của ông (Krugman dẫn một câu trong bài review):

"Of the tendencies that are harmful to sound economics, the most seductive, and in my opinion the most poisonous, is to focus on questions of distribution.”



"Once one starts to think about them [economic growth], it is hard to think about anything else."

Có thể thấy Lucas là đại diện tiêu biểu cho trường phái conservative right-wing, tin rằng một khi kinh tế tăng trưởng tốt vấn đề inequality không đáng bận tâm. Thậm chí ở khía cạnh ngược lại, các cố gắng làm giảm inequality sẽ ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng và sẽ có hại cho xã hội trong dài hạn. Ngược lại với Lucas, Krugman và ngày càng nhiều left-wing economist cho rằng inequality quá cao không chỉ sai về mặt đạo đức mà còn ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.

Quay lại bài review, mặc dù Krugman khen hết lời nhưng có thể nói quyển này chưa thỏa mãn ông. Điểm quan trọng nhất mà Krugman cho rằng Piketty chưa đề cập đầy đủ là vai trò của income inequality hiện tại trong xã hội Mỹ. Piketty cho rằng vấn đề chính trong dài hạn là wealth/capital inequality, nếu xu hướng này tiếp diễn trong thế kỷ 21 thì xã hội phương Tây sẽ quay trở về thời thế kỷ 19 với một vài dòng họ giầu có kiểm soát và cai quản toàn bộ nền kinh tế. Để chống lại xu hướng này các nước cần gia tăng estate/wealth tax, nghĩa là thuế đánh vào của cải mà con cái được thừa hưởng từ bố mẹ.

Krugman đồng ý với nhận định đó nhưng cho rằng hiện tại vấn đề lớn nhất (với Mỹ) là kiểm soát income inequality vì phần lớn những người có thu nhập cực cao (trong giới tài chính và business CEO) không xứng đáng với đồng lương cao như vậy. Krugman trích dẫn một ý rất quan trọng của Piketty là vấn đề income cao hiện tại đã vượt ra ngoài khuôn khổ economic, nghĩa là những mức lương khủng của các CEO không phải do invisible hands xác định mà là social norm và politic thay đổi. Đánh thuế thật cao lên cả income lẫn capital gain là giải pháp mà Krugman cổ súy.

Một chi tiết thú vị khác mà Krugman chỉ ra là hiếm khi có nhà kinh tế nào như Piketty trích dẫn các tác giả văn học cổ điển trong một quyển sách kinh tế. Nhưng điều này có logic của nó vì thế kỷ 19 là thời điểm mà wealth inequality cực điểm nên vấn đề này được phản ánh nhiều trong văn học (e.g. Balzac). Hơn nữa số liệu thống kê thời đó rất hiếm, báo chí chưa phổ biến và được lưu trữ hệ thống như hiện nay nên văn học là một nguồn "bằng chứng" khả dĩ cho Piketty.

Chi tiết này làm tôi nhớ lại một một điều tương tự mà tôi đã để ý khi đọc văn học Nga hồi nhỏ. Trong nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết Nga có các nhà quí tộc sống bằng lợi tức từ một điền trang nào đó. Họ thường là sĩ quan, nhà thơ, họa sĩ, sinh viên sống ở các thành phố lớn (Moscow, St. Petersburg, Kazan...) nhưng thu nhập chủ yếu từ các estate mà họ thừa hưởng từ cha mẹ hoặc người thân. Hiện tượng này chắc phải rất phổ biến nên các nhà văn Nga mới đưa vào tác phẩm của họ thường xuyên như vậy.

Nhưng không chỉ có văn chương, Karl Marx với ý tưởng communism xuất hiện trong bối cảnh kinh tế xã hội như vậy và chắc chắn có không ít thinker có quan điểm giống Marx. Những gì xảy ra trong thế kỷ 20 có lẽ là hệ quả của hình thái xã hội với wealth inequality quá cao của thế kỷ 19. Thế kỷ 21 đang quay về lại thế kỷ 19, vậy thế kỷ 22 sẽ đầy bão táp như thế kỷ 20? Tôi nghĩ điểm khác biệt lớn nhất giữa 2 thế kỷ là sự phổ biến của thông tin dẫn đến "wisdom of the crowd" sẽ dẫn dắt xã hội chứ không phải một vài lãnh tụ với tài năng diễn thuyết như Lenin hay Hitler nữa.

Không kể thiên tai, những destruction lớn trong lịch sử nhân loại đều xuất phát từ một vài cá nhân hay government. Mặc dù thế giới hiện tại vẫn còn những Putin hay Kim Jong Un, tôi tin rằng vai trò của những "lãnh tụ" như vậy sẽ giảm dần trước Facebook, Twister và những hình thái trao đổi/kết nối thông tin khác trong tương lai. Với tôi việc tách rời các vấn đề kinh tế xã hội với information technology trong quyển sách của Piketty là một thiếu sót quan trọng (tôi đoán vậy thôi chứ chưa đọc hết).




Hướng dẫn đọc sách Capital in the 21st century

Tyler Cowen
pikettybot



Một số review: (Xem thêm list of review tổng hợp bởi Habermas & Rawls)

Vox: The short guide to Capital in the 21st Century
James K. Galbraith: Kapital for the Twenty-First Century?
FT: Save capitalism from the capitalists by taxing wealth
The New Yorker: FORCES OF DIVERGENCE
NYT: A Relentless Widening of Disparity in Wealth
Bruegel Blog: Blogs Review: Capital in the twenty-first century
Paul Krugman: Notes on Piketty
Paul Krugman: Piketty Day Notes
Paul Krugman: The Piketty Panic
The Economist: Reading "Capital"
JER: The return of patrimonial capitalism": review of Thomas Piketty's Capital in the 21st century
Guardian: Occupy was right: capitalism has failed the world
Guardian: Inequality hurts everyone apart from the super-rich - and here's why
NYT: Economist Receives Rock Star Treatment
NYT: Marx Rises Again
NYT: Taking On Adam Smith (and Karl Marx)
Chronicle: Capital Man
Tyler Cowen: Capital Punishment
Tyler Cowen: Why I am not persuaded by Thomas Piketty's argument
Bloomberg: The Most Important Book Ever Is All Wrong
The Economist: "Capital" and its discontents (phản hồi lại bài của Clive Crook trên Bloomberg)
Ryan Decker: Capital in partial equilibrium
National Review: The New Marxism
Rober Solow: Thomas Piketty Is Right - Everything you need to know about 'Capital in the Twenty-First Century'
Guy Sorman: The Liberals' New Hero
Nguyễn Vạn Phú: 1% sẽ ăn hết của 99%
Garett Jones: Living with Inequality
Mises.org: Peter Klein and Hunter Lewis
Foreign Policy: France Is Not Impressed With Thomas Piketty
Karl Icahn: Interview with Business Insider
New Republic: Thomas Piketty Is Pulling Your Leg
Mervyn King: Capital in the 21 century by Thomas Piketty, Review
Project Syndicate: Rogoff, DeLong, Shiller, Rodrik
Larry Summers: The Inequality Puzzle
Chris Giles (FT): Piketty findings undercut by errors
Chris Giles (blog): Data problems with Capital in 21 century (Piketty's response)
Tyler Cowen: What do the Piketty data problems really mean?
James Hamilton: Criticisms of Piketty
Paul Krugman: Is Piketty All Wrong?
The Economist: The Piketty Problem?
James Galbraith: 'Unpacking the First Fundamental Law'
Brad DeLong: Mr. Piketty and the "Neoclassicists": A Suggested Interpretation
Evan Davis (The Spectator): Has Thomas Piketty met his match?




Phỏng vấn

Juncture Interview
New Republic
Salon.com
Piketty/Krugman/Stiglitz/Durlauf




Thomas Piketty's materials

Notes của Piketty về các mô hình capital accumulation
Số liệu sử dụng trong Capital in 21 century (Quandl.com cũng có một chuyên trang về bộ số liệu này)






Monday, March 31, 2014

Wage growth



[Warning: bài này khá wonkish và có nhiều từ tiếng Anh, ai dị ứng với cách viết này không nên đọc tiếp. Sorry.]


Mấy hôm trước tôi có hai notes trên G+ (1, 2) về số liệu tăng trưởng nominal wage của VN trích dẫn trong một nghiên cứu của giáo sư Kenichi Ohno. Tôi nghi ngờ con số tăng trưởng 25.9%/năm trong giai đoạn 2009-2012 phản ánh đúng thực tế thị trường lao động VN mặc dù có vẻ con số này có nguồn từ ILO. Bên cạnh cảm nhận chủ quan của tôi về tốc độ tăng lương của VN trong giai đoạn đó, dưới đây tôi sẽ nói thêm một số cơ sở lý thuyết (macro) của các yếu tố tác động đến tăng trưởng tiền lương.

Trong kinh tế học tiền lương (wage) và thị trường lao động nói chung (labor market) được nghiên cứu chủ yếu trên khía cạnh micro, vd search theory, efficiency wage, minimum wage, mặc dù ứng dụng của những nghiên cứu đó lại chủ yếu trong macro. Có lẽ mô hình nổi tiếng nhất về labor market trong macro là Phillips curve, nhưng đây lại là mô hình static - nghĩa là chỉ quan tâm đến quan hệ giữa (un)employment và inflation/output ở một thời điểm nhất định (equilibrium) nên không giải thích được tốc độ tăng trưởng của lương bổng (wage growth) theo thời gian. Trên thực tế vấn đề wage growth trong macro chỉ là hệ quả gián tiếp của các mô hình dynamic về business cycle như RBC hay New Keynesian, hoặc môt số mô hình liên quan đến tăng trưởng kinh tế (economic growth).

Đến nay hiểu biết của các nhà kinh tế (macro) về wage growth khá đơn giản. Trong dài hạn real wage growth phải bằng real (labor) productivity growth, nghĩa là nếu một nền kinh tế có real productivity tăng 2%/năm thì real wage growth cũng phải có tốc độ tăng trưởng xấp xỉ như vậy. Real productivity growth có 2 nguồn động lực chính: capital accumulation/investment và technological improvement. Khi nền kinh tế tích tụ (physical) capital thì marginal product of labor sẽ tăng do đó output per worker sẽ tăng. Tương tự như vậy dù capital không tăng nhưng chất lương máy móc, thiết bị, cơ sở hạ tầng tăng (technological progress) thì output per worker cũng tăng. Human capital (bao gồm cả management skills) có thể xếp vào 1 trong 2 yếu tố trên.

Nếu nền kinh tế có lạm phát, nominal wage growth sẽ bằng real wage growth cộng thêm tốc độ lạm phát. Nhiều người nói về wage-price spiral hàm ý rằng nominal wage growth và inflation rate có thể tạo thành một feedback loop, lạm phát cao dẫn đến nominal wage phải tăng rồi wage tăng quay lại làm tăng lạm phát. Tuy nhiên trong lý thuyết macro đây chỉ là kênh truyền dẫn chứ không phải nguyên nhân gốc dẫn đến lạm phát hay nominal wage growth. Đằng sau nó phải là monetary policy hoặc các thể loại external shocks.

Đó là về dài hạn, trong ngắn hạn wage growth có thể thay đổi tuỳ thuộc và demand-supply trên thị trường lao động. Khi nền kinh tế phát triển nóng nhu cầu thuê mướn nhân công tăng cao trong khi unemployment thấp sẽ làm nominal wage growth tăng nhanh hơn inflation + productivity growth. Ngược lại khi nền kinh tế bị suy thoái nominal wage growth sẽ tăng chậm lại hoặc thậm chí không tăng vì doanh nghiệp thu hẹp sản xuất và cắt giảm lao động. Đa số các nhà kinh tế tin rằng nominal wage growth không đối xứng trong một chu kỳ kinh tế, nghĩa là lương bổng tăng nhanh trong giai đoạn booming nhưng ít khi giảm trong các giai đoạn recession. Hiện tượng này gọi là nominal wage downward rigidity, được giải thích bởi tâm lý của người lao động khó chấp nhận bị cắt lương và sự tồn tại của các tổ chức công đoàn và luật lương tối thiẻu. Đây là lý do mà nhiều nhà kinh tế cho rằng một mức lạm phát thấp và ổn định có lợi cho nền kinh tế chứ không phải zero inflation mới tốt.

Quay lại trường hợp nominal wage growth của VN trong giai đoạn 2009-2012, xét cả yếu tố dài hạn lẫn ngắn hạn tôi không thấy có lý do để tin vào con số 25.9%/năm. Mặc dù đây là giai đoạn có inflation cao, trung bình 12.1%/năm, productivity của VN tăng khá chậm chỉ quanh quẩn 3%. Như vậy nếu nominal wage growth phản ánh mối quan hệ dài hạn thì tốc độ tăng trưởng cũng chỉ xấp xỉ 15-16%/năm. Hơn nữa tôi tin là các yếu tố ngắn hạn trong giai đoạn này không có lợi cho wage growth vì nền kinh tế đang trên đà đi xuống, labor demand chắc chắn không cao để đến mức các doanh nghiệp phải tăng lương đồng loạt. Tôi không rõ tốc độ tăng lương tối thiểu trong giai đoạn này thế nào, nhưng nếu nó không quá cao so với tốc độ lạm phát thì đó cũng không phải nguyên nhân. Hơn nữa số lao động được hưởng lợi trực tiếp từ minimum wage chỉ là một phần nhỏ trong nền kinh tế. Số liệu của TCTK về lương bổng trong khu vực kinh tế nhà nước cũng phản ánh điều này, nominal wage growth chỉ nhỉnh hơn inflation rate môt chút, còn real wage growth thấp hơn hẳn real productivity growth. Thật khó có thể tin được real wage growth của toàn bộ nền kinh tế cao hơn 10% trong hoàn cảnh như vậy.

Tất nhiên lập luận của tôi có thể sai, tuy nhiên nếu giáo sư Ohno và/hoặc ILO không chỉ ra được lý do làm cho nominal/real wage của VN tăng trưởng cao như vậy trong giai đoạn 2009-2012 thì tôi vẫn giữ nguyên nghi ngờ của mình.


Wednesday, March 5, 2014

Kiva


Tôi đã từng nghe nói đến Kiva môt vài lần nhưng không để ý lắm cho đến khi đọc được bài báo này trên Business Insider. Bài báo cho biết công ty HP vừa cho mỗi nhân viên $25 để họ làm từ thiện bằng cách cho vay thông qua Kiva. Vào tìm hiểu kỹ hơn về tổ chức này mới vỡ lẽ mô hình hoạt động rất hay của họ.

Kiva cổ suý cho micro-finance ở các nước nghèo bằng cách lập ra một website để những nhà hảo tâm ở các nước phát triển (hoặc bất kỳ đâu trên thế giới) có thể góp một khoản tiền nhỏ cho các dự án micro-finance. Ở mỗi nước đang phát triển Kiva xây dựng một mạng lưới local partner, thường là các NGO và các tổ chức xã hội khác có kinh nghiệm trong lĩnh vực micro-finance. Mỗi khi một partner tìm được một dự án cần vay tiền, họ sẽ giúp chủ dự án - thường là những người dân nghèo cần một khoản tiền nhỏ để đầu tư sản xuất/kinh doanh - viết và giới thiệu dự án lên website Kiva. Các nhà hảo tâm, là registered user trên website Kiva, có thể xem danh sách các dự án đang cần vay tiền rồi chọn ra dự án mà họ muốn giúp đỡ bằng cách cho vay một khoản tiền nào đó, tối thiểu là $25. Kiva sẽ nhận tiền rồi chuyển cho local partner để họ giải ngân, theo dõi dự án và thu hồi vốn khi khoản vay đáo hạn. Sau đó các nhà hảo tâm có thể rút vốn của họ ra nhưng đa số lại tiếp tục cho các dự án khác vay.

Hiện tại Kiva có 1.6 triệu user (nhà hảo tâm) và đã cho vay hơn 536 triệu USD, trung bình 415 USD một khoản vay. Tỷ lệ hoàn vốn 98.97%, nghĩa là "nợ xấu" của hệ thống microfinance này chỉ là 1.03%, thấp hơn nhiều tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng VN. Kiva đã có mạng lưới 242 local partner ở 73 quốc gia, trong đó có VN (6 partner). Ở thời điểm hiện tại (5/3/2014) có tổng cộng 3914 dự án đang chờ được cho vay, trong đó có 2 dự án từ VN. So với các nước có thể nói số dự án của VN khá thấp (Philippines có 647 dự án, Pakistan có 119, Cambodia 25). Như vậy có lẽ Kiva chưa được các NGO liên quan đến micro-finance ở VN quan tâm và bản thân Kiva cũng chưa được nhiều người VN biết đến. Số người VN tham gia cho vay có lẽ cũng khá khiêm tốn,  nhìn số user đã cho vay trong 2 dự án của VN thấy rất ít tên người Việt (có một chị có nickname là phuong60 đã cho vay 538 dự án). Khi login vào Kiva bằng Facebook account tôi chỉ mới thấy có Quoc-Anh Do và Anh Gau Pham trong số Facebook friends của tôi đã là registered user.

Rất mong các tổ chức thiện nguyện và NGO ở VN quan tâm hơn đến Kiva, đăng ký làm local partner với tổ chức này để có thêm cơ hội giúp người nghèo VN vay tiền. Cũng rất mong các bạn có điều kiện ở cả nước ngoài lẫn trong nước tham gia cho vay dù chỉ với một số tiền nhỏ. Với tỷ lệ hoàn vốn rất cao của Kiva số tiền của các bạn sẽ được quay vòng nhiều lần, giúp cho nhiều đồng bào khó khăn của chúng ta có môt chút vốn khởi nghiệp.


Note: Bạn nào muốn đăng ký làm user của Kiva để cho vay có thể vào trực tiếp website của tổ chức này hoặc click vào: http://www.kiva.org/invitedby/giang5498. Đây là link mời tham gia của tôi, nếu bạn đăng ký qua link này tôi sẽ được một tổ chức từ thiện thông qua Kiva bonus cho $25 credit để tiếp tục cho vay. Cám ơn các bạn.


Friday, February 28, 2014

Bitcoin regulation


Hôm qua chủ tịch Fed Janet Yellen trả lời chất vấn ở QH Mỹ đã nói Fed không có thẩm quyền để giám sát hoặc quản lý bitcoin. Lý do là luật Mỹ (Federal Reserve Act) giới hạn quyền của Fed chỉ được giám sát hệ thống ngân hàng trong khi bitcoin được giao dịch bên ngoài hệ thống này. Cũng trong hôm qua NHNN ra "Thông cáo báo chí về bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác" (link đến file .doc). Đọc bản thông cáo báo chí này, mặc dù có một số điểm tôi không hoàn toàn đồng ý (sẽ nói thêm bên dưới), có thể nói NHNN đã làm đúng chức năng và không vượt quá jurisdiction của mình tương tự như Yellen/Fed đã hành xử. Đây là điểm rất đáng khen của NHNN.

Một thông cáo báo chí của cơ quan quản lý nhà nước chỉ nêu ra quan điểm hoặc cung cấp số liệu, thông tin, sự kiện cho dân chúng biết, nó không phải là văn bản pháp luật liên quan đến chức năng, quyền hạn của cơ quan đó. Quan điểm của NHNN hay bất kỳ cơ quan nhà nước nào khác có thể đúng, có thể sai, báo chí và các chuyên gia có thể thảo luận, phản bác. Thậm chí những đối tượng bình thường chịu sự quản lý của NHNN (trong trường hợp này là các NHTM) có thể không thực hiện những khuyến cáo trong thông cáo báo chí cho đến khi có văn bản (dưới luật) chính thức được ban hành.

Tôi nghĩ NHNN hiểu rất rõ điều này nên đã viết "Về việc sử dụng bitcoin như là một loại tiền tệ hoặc phương tiện thanh toán, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có ý kiến như sau:..." (tôi nhấn mạnh). Rất tiếc báo chí khi đưa tin về thông cáo này không hiểu rõ điểm này nên có những title như "Việt Nam nói không với tiền ảo" hay "Việt Nam không chấp nhận tiền Bitcoin", hoặc nhẹ nhàng hơn như "Ngân hàng Nhà nước cảnh báo tiền ảo Bitcoin không hợp pháp" hay "Ngân hàng Nhà nước cảnh báo về tiền ảo Bitcoin". Cho dù ý kiến của NHNN là bitcoin không phải là đồng tiền và phương tiện thanh toán hợp pháp ở VN, đó mới chỉ là ý kiến chứ chưa phải qui định quản lý chính thức.

Vậy tại sao NHNN mới chỉ ra thông cáo báo chí chứ chưa đưa ra văn bản quản lý chính thức (thông tư, quyết định)? Có thể vì NHNN chưa có thời gian để tìm hiểu kỹ về bitcoin, có thể họ còn muốn quan sát xem các nước khác quản lý thế nào, có thể họ nghĩ không lâu nữa bitcoin sẽ chết nên chẳng việc gì phải mất công ra văn bản. Tôi nghĩ NHNN chưa thực sự hiểu về bitcoin vì cả 4 rủi ro/tác hại mà phần đầu của bản thông cáo đưa ra đều có vấn đề.

Thứ nhất, đúng là bitcoin có tính ẩn danh cao và đã trở thành công cụ cho giới tội phạm, nhưng đó không phải là rủi ro cho người sử dụng mà là khó khăn cho cơ quan quản lý. Về mặt ẩn danh tiền mặt (cash) cao hơn bitcoin, giới tội phạm từ trước đến nay sử dụng tiền mặt không hề ít nhưng đó không phải rủi ro cho người sử dụng và cũng không vì tính ẩn danh mà phải cấm sử dụng tiền mặt. Một điểm quan trọng mà bản thông cáo báo chí này không đưa ra/phân tích là liệu bitcoin có lợi ích gì cho người sử dụng bình thường hay không. Nếu chỉ có một lượng giao dịch nhỏ bitcoin cho các hoạt động phạm pháp trong khi lợi ích cho các hoạt động hợp pháp khác lớn thì có thể benefit của hệ thống bitcoin sẽ vượt cost và nên khuyến khích sử dụng đồng tiền này.

Thứ hai, đúng là bitcoin có rủi ro sẽ bị tấn công, đánh cắp và thất thoát trên thế giới ảo, nhưng rủi ro này có thực sự "rất lớn" hay không? So với rủi ro tiền mặt bị trộm cướp, thẻ tín dụng bị làm giả, tiền gửi ngân hàng bị "Huyền Như" thì rủi ro bitcoin bị mất lớn hơn bao nhiêu lần? Rủi ro đó có đến mức làm benefit của bitcoin giảm thấp hơn cost hay không? Ngay cả nếu rủi ro đó hiện tại khá lớn nhưng sự tiến bộ công nghệ trong thời gian tới có thể giảm rủi ro đó xuống hay không? Mt.Gox đóng cửa không khác gì một ngân hàng phá sản. Nếu có một hệ thống deposit insurance cho bitcoin thì tác động của một vụ đóng cửa như vậy sẽ được giảm thiểu.

Thứ ba, giá trị của bitcoin biến động mạnh và phức tạp đúng là rủi ro cho nhà đầu tư, nhưng bất kỳ loại hình đầu tư nào cũng có rủi ro, nhà đầu tư chấp nhận rủi ro thì họ tham gia. Đầu tư vào cổ phiếu ở VN cũng đầy rủi ro nhưng như vậy không có nghĩa nhà đầu tư không nên tham gia. Vấn đề là họ có hiểu rõ rủi ro đó hay không, điều này liên quan đến transparency/disclosure, và thị trường có công cụ để hedge rủi ro nếu họ cần tránh hay không. Bitcoin mới ra đời chưa lâu và còn trong giai đoạn định hình, có thể nó sẽ chết trong tương lai nhưng cũng có thể nó sẽ ổn định và phát triển thành một công cụ thanh toán có uy tín. Lúc đó có thể rủi ro của bitcoin sẽ không khác mấy rủi ro của một đồng tiền chính thức.

Thứ tư, đúng ra bitcoin "chưa" bị chi phối và kiểm soát bởi các cơ quan quản lý nhà nước và quốc tế, nhưng không có nghĩa là không bao giờ. Ngay cả hiện tại chưa có ai quản lý bitcoin, các giao dịch sử dụng bitcoin, và các dịch vụ liên quan đến nó, điều đó không có nghĩa người sở hữu bitcoin sẽ chịu toàn bộ rủi ro vì không có cơ chế bảo vệ quyền lợi. Tôi không rõ NHNN có văn bản nào thừa nhận việc thanh toán qua Paypal hay không nhưng các bên giao dịch bằng Paypal trên lãnh thổ VN hoàn toàn có quyền kiện nhau ra tòa kinh tế nếu có tranh chấp. Quyền lợi của họ được bảo hộ bằng các bộ luật kinh tế/dân sự khác. Việc bộ Tư pháp Nhật và Mỹ điều tra Mt.Gox là bằng chứng cho thấy cơ quan bảo vệ pháp luật vẫn có trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng cho dù bitcoin chưa được Fed hay BoJ quản lý.

Ở đây tôi xin nói rõ thêm một điểm về tính hợp pháp của một đồng tiền và tính hợp pháp của phương tiện thanh toán. Mỗi quốc gia chỉ có duy nhất một đồng tiền hợp pháp (legal tender), trừ một số trường hợp đặc biệt. Tính hợp pháp của đồng tiền quốc gia nằm ở chỗ nó phải được chấp nhận bắt buộc là phương tiện thanh toán cho các giao dịch kinh tế, nghĩa là nếu bạn mua hàng và trả bằng VND thì người bán trên lãnh thổ VN không có quyền từ chối nhận thanh toán bằng đồng tiền đó. Lưu ý rằng tính hợp pháp của đồng tiền không phải là điều kiện để giao dịch kinh tế được pháp luật bảo hộ. Một giao dịch bất hợp pháp bằng đồng tiền quốc gia vẫn có thể bị tòa không công nhận, ví dụ mua bán nội tạng không được công nhận ở hầu hết các nước trên thế giới và tòa sẽ không xử những vụ tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán nội tạng trừ khi có dấu hiệu hình sự.

Tính hợp pháp của một đồng tiền đồng nghĩa với nó là phương tiện thanh toán hợp pháp. Nhưng một quốc gia có thể có nhiều phương tiện thanh toán hợp pháp khác ngoài đồng tiền chính thức của quốc gia đó. Ví dụ có thể sử dụng ngoại tệ, vàng làm phương tiện thanh toán, hay có thể sử dụng hàng hóa và dịch vụ cho mục đích thanh toán (hàng đổi hàng). Trên thực tế bank credit có thể coi là một loại tiền tệ bán chính thức đồng thời là phương tiện thanh toán hợp pháp ở tất cả các nước. Khi bạn sử dụng credit card thanh toán cho một món hàng, ngân hàng tạo ra một phương tiện thanh toán hợp pháp cho bạn, nhưng đó không phải là đồng tiền hợp pháp. Người bán có quyền từ chối không nhận thanh toán bằng credit card hoặc không chấp nhận một số loại card và họ không hề phạm pháp.

Với đồng bitcoin hiển nhiên nó không là đồng tiền hợp pháp ở bất kỳ quốc gia nào vì nó không được một chính phủ nào tạo ra. Điều này không cần central bank đứng ra tuyên bố. Với nhiều nước ngay cả tính hợp pháp của phương tiện thanh toán cũng không nằm trong thẩm quyển của central bank, như trường hợp US Federal Reserve System tôi đã trích dẫn bên trên. Chỉ khi nào ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác sử dụng đồng tiền này làm phương tiện thanh toán thì Fed mới có quyền can thiệp. Bên ngoài hệ thống ngân hàng bitcoin được coi như một loại tài sản bình thường và được tồn tại cho đến khi  có luật cấm cụ thể (nếu có). Hầu hết các quốc gia đã tuyên bố quan điểm về bitcoin được liệt kê trong entry này của Wikipedia đều không cấm việc sở hữu, trao đổi bitcoin như một phương tiện thanh toán cá nhân, họ chỉ cảnh báo rủi ro cho người sử dụng tương tự như trong thông cáo báo chí của NHNN VN. Trường hợp duy nhất có văn bản cấm chính thức là PBoC (TQ) không cho phép các ngân hàng thanh toán bằng bitcoin. Nếu NHNN ra thông tư cấm các tổ chức tín dụng không được sử dụng bitcoin như đã tuyên bố trong thông cáo báo chí thì VN sẽ là nước thứ hai chính thức cấm. Thailand có một giai đoạn cấm nhưng đã bỏ lệnh này.

Tóm lại việc NHNN ra thông cáo báo chí nêu rõ quan điểm của mình về bitcoin và cảnh báo các rủi ro cho nhà đầu tư là một việc làm đúng đắn, cẩn trọng. Cá nhân tôi khuyến cáo NHNN chưa nên ra văn bản chính thức cấm hay cho phép giao dịch bitcoin trong hệ thống ngân hàng. Cần chờ thêm một thời gian nữa theo dõi sự phát triển của thị trường này và các chính sách regulation của các nước khác. Gần đây Nhật đã kêu gọi hợp tác quốc tế về việc quản lý bitcoin, bang New York của Mỹ cũng đang soạn thảo một số qui chế kiểm soát các tổ chức có hoạt động liên quan đến bitcoin. Trước mắt NHNN nên tìm cách thu thập số liệu về các hoạt động liên quan đến bitcoin trên lãnh thổ VN, tư vấn cho các cơ quan tư pháp và QH về các vấn đề hay tranh chấp liên quan đến đồng tiền này. Tôi hi vọng đến một ngày nào đó bitcoin hoặc một cryptocurrency khác sẽ trở thành một phương tiện thanh toán hợp pháp và phổ biến ở VN và trên thế giới.