Thursday, April 10, 2014

Capital


Cuối cùng Paul Krugman đã viết xong bài review cho quyển "Capital in the 21st century" của Thomas Piketty. Trước đó The Economist cho rằng quyển sách này quan trọng như Das Kapital của Karl Marx, còn Krugman đánh giá: "This is a book that will change both the way we think about society and the way we do economics."

Tôi đã đọc gần chục bài review về quyển này (và đang đọc nguyên bản nhưng chưa biết khi nào xong vì quyển này gần 700 trang). Nhìn chung phe tả khen ngợi hết lời ngoại trừ James K. Galbraith, còn phe hữu thì coi đây như một lời kêu gọi "đấu tranh giai cấp" mới của thế kỷ 21. Thực ra phe hữa chưa có nhiều review, tôi cực kỳ trông đợi review hoặc ý kiến của Lucas và Ferguson (một số cái tên đáng trông đợi khác là Solow, Romer, Becker) . Nhắc đến Lucas tôi nhớ đến 2 câu trích dẫn rất nổi tiếng của ông (Krugman dẫn một câu trong bài review):

"Of the tendencies that are harmful to sound economics, the most seductive, and in my opinion the most poisonous, is to focus on questions of distribution.”



"Once one starts to think about them [economic growth], it is hard to think about anything else."

Có thể thấy Lucas là đại diện tiêu biểu cho trường phái conservative right-wing, tin rằng một khi kinh tế tăng trưởng tốt vấn đề inequality không đáng bận tâm. Thậm chí ở khía cạnh ngược lại, các cố gắng làm giảm inequality sẽ ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng và sẽ có hại cho xã hội trong dài hạn. Ngược lại với Lucas, Krugman và ngày càng nhiều left-wing economist cho rằng inequality quá cao không chỉ sai về mặt đạo đức mà còn ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.

Quay lại bài review, mặc dù Krugman khen hết lời nhưng có thể nói quyển này chưa thỏa mãn ông. Điểm quan trọng nhất mà Krugman cho rằng Piketty chưa đề cập đầy đủ là vai trò của income inequality hiện tại trong xã hội Mỹ. Piketty cho rằng vấn đề chính trong dài hạn là wealth/capital inequality, nếu xu hướng này tiếp diễn trong thế kỷ 21 thì xã hội phương Tây sẽ quay trở về thời thế kỷ 19 với một vài dòng họ giầu có kiểm soát và cai quản toàn bộ nền kinh tế. Để chống lại xu hướng này các nước cần gia tăng estate/wealth tax, nghĩa là thuế đánh vào của cải mà con cái được thừa hưởng từ bố mẹ.

Krugman đồng ý với nhận định đó nhưng cho rằng hiện tại vấn đề lớn nhất (với Mỹ) là kiểm soát income inequality vì phần lớn những người có thu nhập cực cao (trong giới tài chính và business CEO) không xứng đáng với đồng lương cao như vậy. Krugman trích dẫn một ý rất quan trọng của Piketty là vấn đề income cao hiện tại đã vượt ra ngoài khuôn khổ economic, nghĩa là những mức lương khủng của các CEO không phải do invisible hands xác định mà là social norm và politic thay đổi. Đánh thuế thật cao lên cả income lẫn capital gain là giải pháp mà Krugman cổ súy.

Một chi tiết thú vị khác mà Krugman chỉ ra là hiếm khi có nhà kinh tế nào như Piketty trích dẫn các tác giả văn học cổ điển trong một quyển sách kinh tế. Nhưng điều này có logic của nó vì thế kỷ 19 là thời điểm mà wealth inequality cực điểm nên vấn đề này được phản ánh nhiều trong văn học (e.g. Balzac). Hơn nữa số liệu thống kê thời đó rất hiếm, báo chí chưa phổ biến và được lưu trữ hệ thống như hiện nay nên văn học là một nguồn "bằng chứng" khả dĩ cho Piketty.

Chi tiết này làm tôi nhớ lại một một điều tương tự mà tôi đã để ý khi đọc văn học Nga hồi nhỏ. Trong nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết Nga có các nhà quí tộc sống bằng lợi tức từ một điền trang nào đó. Họ thường là sĩ quan, nhà thơ, họa sĩ, sinh viên sống ở các thành phố lớn (Moscow, St. Petersburg, Kazan...) nhưng thu nhập chủ yếu từ các estate mà họ thừa hưởng từ cha mẹ hoặc người thân. Hiện tượng này chắc phải rất phổ biến nên các nhà văn Nga mới đưa vào tác phẩm của họ thường xuyên như vậy.

Nhưng không chỉ có văn chương, Karl Marx với ý tưởng communism xuất hiện trong bối cảnh kinh tế xã hội như vậy và chắc chắn có không ít thinker có quan điểm giống Marx. Những gì xảy ra trong thế kỷ 20 có lẽ là hệ quả của hình thái xã hội với wealth inequality quá cao của thế kỷ 19. Thế kỷ 21 đang quay về lại thế kỷ 19, vậy thế kỷ 22 sẽ đầy bão táp như thế kỷ 20? Tôi nghĩ điểm khác biệt lớn nhất giữa 2 thế kỷ là sự phổ biến của thông tin dẫn đến "wisdom of the crowd" sẽ dẫn dắt xã hội chứ không phải một vài lãnh tụ với tài năng diễn thuyết như Lenin hay Hitler nữa.

Không kể thiên tai, những destruction lớn trong lịch sử nhân loại đều xuất phát từ một vài cá nhân hay government. Mặc dù thế giới hiện tại vẫn còn những Putin hay Kim Jong Un, tôi tin rằng vai trò của những "lãnh tụ" như vậy sẽ giảm dần trước Facebook, Twister và những hình thái trao đổi/kết nối thông tin khác trong tương lai. Với tôi việc tách rời các vấn đề kinh tế xã hội với information technology trong quyển sách của Piketty là một thiếu sót quan trọng (tôi đoán vậy thôi chứ chưa đọc hết).



Một số review:

Vox: The short guide to Capital in the 21st Century
James K. Galbraith: Kapital for the Twenty-First Century?
FT: Save capitalism from the capitalists by taxing wealth
The New Yorker: FORCES OF DIVERGENCE
NYT: A Relentless Widening of Disparity in Wealth
Bruegel Blog: Blogs Review: Capital in the twenty-first century
Paul Krugman: Notes on Piketty
The Economist: Reading "Capital"
JER: The return of patrimonial capitalism": review of Thomas Piketty's Capital in the 21st century



Monday, March 31, 2014

Wage growth



[Warning: bài này khá wonkish và có nhiều từ tiếng Anh, ai dị ứng với cách viết này không nên đọc tiếp. Sorry.]


Mấy hôm trước tôi có hai notes trên G+ (1, 2) về số liệu tăng trưởng nominal wage của VN trích dẫn trong một nghiên cứu của giáo sư Kenichi Ohno. Tôi nghi ngờ con số tăng trưởng 25.9%/năm trong giai đoạn 2009-2012 phản ánh đúng thực tế thị trường lao động VN mặc dù có vẻ con số này có nguồn từ ILO. Bên cạnh cảm nhận chủ quan của tôi về tốc độ tăng lương của VN trong giai đoạn đó, dưới đây tôi sẽ nói thêm một số cơ sở lý thuyết (macro) của các yếu tố tác động đến tăng trưởng tiền lương.

Trong kinh tế học tiền lương (wage) và thị trường lao động nói chung (labor market) được nghiên cứu chủ yếu trên khía cạnh micro, vd search theory, efficiency wage, minimum wage, mặc dù ứng dụng của những nghiên cứu đó lại chủ yếu trong macro. Có lẽ mô hình nổi tiếng nhất về labor market trong macro là Phillips curve, nhưng đây lại là mô hình static - nghĩa là chỉ quan tâm đến quan hệ giữa (un)employment và inflation/output ở một thời điểm nhất định (equilibrium) nên không giải thích được tốc độ tăng trưởng của lương bổng (wage growth) theo thời gian. Trên thực tế vấn đề wage growth trong macro chỉ là hệ quả gián tiếp của các mô hình dynamic về business cycle như RBC hay New Keynesian, hoặc môt số mô hình liên quan đến tăng trưởng kinh tế (economic growth).

Đến nay hiểu biết của các nhà kinh tế (macro) về wage growth khá đơn giản. Trong dài hạn real wage growth phải bằng real (labor) productivity growth, nghĩa là nếu một nền kinh tế có real productivity tăng 2%/năm thì real wage growth cũng phải có tốc độ tăng trưởng xấp xỉ như vậy. Real productivity growth có 2 nguồn động lực chính: capital accumulation/investment và technological improvement. Khi nền kinh tế tích tụ (physical) capital thì marginal product of labor sẽ tăng do đó output per worker sẽ tăng. Tương tự như vậy dù capital không tăng nhưng chất lương máy móc, thiết bị, cơ sở hạ tầng tăng (technological progress) thì output per worker cũng tăng. Human capital (bao gồm cả management skills) có thể xếp vào 1 trong 2 yếu tố trên.

Nếu nền kinh tế có lạm phát, nominal wage growth sẽ bằng real wage growth cộng thêm tốc độ lạm phát. Nhiều người nói về wage-price spiral hàm ý rằng nominal wage growth và inflation rate có thể tạo thành một feedback loop, lạm phát cao dẫn đến nominal wage phải tăng rồi wage tăng quay lại làm tăng lạm phát. Tuy nhiên trong lý thuyết macro đây chỉ là kênh truyền dẫn chứ không phải nguyên nhân gốc dẫn đến lạm phát hay nominal wage growth. Đằng sau nó phải là monetary policy hoặc các thể loại external shocks.

Đó là về dài hạn, trong ngắn hạn wage growth có thể thay đổi tuỳ thuộc và demand-supply trên thị trường lao động. Khi nền kinh tế phát triển nóng nhu cầu thuê mướn nhân công tăng cao trong khi unemployment thấp sẽ làm nominal wage growth tăng nhanh hơn inflation + productivity growth. Ngược lại khi nền kinh tế bị suy thoái nominal wage growth sẽ tăng chậm lại hoặc thậm chí không tăng vì doanh nghiệp thu hẹp sản xuất và cắt giảm lao động. Đa số các nhà kinh tế tin rằng nominal wage growth không đối xứng trong một chu kỳ kinh tế, nghĩa là lương bổng tăng nhanh trong giai đoạn booming nhưng ít khi giảm trong các giai đoạn recession. Hiện tượng này gọi là nominal wage downward rigidity, được giải thích bởi tâm lý của người lao động khó chấp nhận bị cắt lương và sự tồn tại của các tổ chức công đoàn và luật lương tối thiẻu. Đây là lý do mà nhiều nhà kinh tế cho rằng một mức lạm phát thấp và ổn định có lợi cho nền kinh tế chứ không phải zero inflation mới tốt.

Quay lại trường hợp nominal wage growth của VN trong giai đoạn 2009-2012, xét cả yếu tố dài hạn lẫn ngắn hạn tôi không thấy có lý do để tin vào con số 25.9%/năm. Mặc dù đây là giai đoạn có inflation cao, trung bình 12.1%/năm, productivity của VN tăng khá chậm chỉ quanh quẩn 3%. Như vậy nếu nominal wage growth phản ánh mối quan hệ dài hạn thì tốc độ tăng trưởng cũng chỉ xấp xỉ 15-16%/năm. Hơn nữa tôi tin là các yếu tố ngắn hạn trong giai đoạn này không có lợi cho wage growth vì nền kinh tế đang trên đà đi xuống, labor demand chắc chắn không cao để đến mức các doanh nghiệp phải tăng lương đồng loạt. Tôi không rõ tốc độ tăng lương tối thiểu trong giai đoạn này thế nào, nhưng nếu nó không quá cao so với tốc độ lạm phát thì đó cũng không phải nguyên nhân. Hơn nữa số lao động được hưởng lợi trực tiếp từ minimum wage chỉ là một phần nhỏ trong nền kinh tế. Số liệu của TCTK về lương bổng trong khu vực kinh tế nhà nước cũng phản ánh điều này, nominal wage growth chỉ nhỉnh hơn inflation rate môt chút, còn real wage growth thấp hơn hẳn real productivity growth. Thật khó có thể tin được real wage growth của toàn bộ nền kinh tế cao hơn 10% trong hoàn cảnh như vậy.

Tất nhiên lập luận của tôi có thể sai, tuy nhiên nếu giáo sư Ohno và/hoặc ILO không chỉ ra được lý do làm cho nominal/real wage của VN tăng trưởng cao như vậy trong giai đoạn 2009-2012 thì tôi vẫn giữ nguyên nghi ngờ của mình.


Wednesday, March 5, 2014

Kiva


Tôi đã từng nghe nói đến Kiva môt vài lần nhưng không để ý lắm cho đến khi đọc được bài báo này trên Business Insider. Bài báo cho biết công ty HP vừa cho mỗi nhân viên $25 để họ làm từ thiện bằng cách cho vay thông qua Kiva. Vào tìm hiểu kỹ hơn về tổ chức này mới vỡ lẽ mô hình hoạt động rất hay của họ.

Kiva cổ suý cho micro-finance ở các nước nghèo bằng cách lập ra một website để những nhà hảo tâm ở các nước phát triển (hoặc bất kỳ đâu trên thế giới) có thể góp một khoản tiền nhỏ cho các dự án micro-finance. Ở mỗi nước đang phát triển Kiva xây dựng một mạng lưới local partner, thường là các NGO và các tổ chức xã hội khác có kinh nghiệm trong lĩnh vực micro-finance. Mỗi khi một partner tìm được một dự án cần vay tiền, họ sẽ giúp chủ dự án - thường là những người dân nghèo cần một khoản tiền nhỏ để đầu tư sản xuất/kinh doanh - viết và giới thiệu dự án lên website Kiva. Các nhà hảo tâm, là registered user trên website Kiva, có thể xem danh sách các dự án đang cần vay tiền rồi chọn ra dự án mà họ muốn giúp đỡ bằng cách cho vay một khoản tiền nào đó, tối thiểu là $25. Kiva sẽ nhận tiền rồi chuyển cho local partner để họ giải ngân, theo dõi dự án và thu hồi vốn khi khoản vay đáo hạn. Sau đó các nhà hảo tâm có thể rút vốn của họ ra nhưng đa số lại tiếp tục cho các dự án khác vay.

Hiện tại Kiva có 1.6 triệu user (nhà hảo tâm) và đã cho vay hơn 536 triệu USD, trung bình 415 USD một khoản vay. Tỷ lệ hoàn vốn 98.97%, nghĩa là "nợ xấu" của hệ thống microfinance này chỉ là 1.03%, thấp hơn nhiều tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng VN. Kiva đã có mạng lưới 242 local partner ở 73 quốc gia, trong đó có VN (6 partner). Ở thời điểm hiện tại (5/3/2014) có tổng cộng 3914 dự án đang chờ được cho vay, trong đó có 2 dự án từ VN. So với các nước có thể nói số dự án của VN khá thấp (Philippines có 647 dự án, Pakistan có 119, Cambodia 25). Như vậy có lẽ Kiva chưa được các NGO liên quan đến micro-finance ở VN quan tâm và bản thân Kiva cũng chưa được nhiều người VN biết đến. Số người VN tham gia cho vay có lẽ cũng khá khiêm tốn,  nhìn số user đã cho vay trong 2 dự án của VN thấy rất ít tên người Việt (có một chị có nickname là phuong60 đã cho vay 538 dự án). Khi login vào Kiva bằng Facebook account tôi chỉ mới thấy có Quoc-Anh Do và Anh Gau Pham trong số Facebook friends của tôi đã là registered user.

Rất mong các tổ chức thiện nguyện và NGO ở VN quan tâm hơn đến Kiva, đăng ký làm local partner với tổ chức này để có thêm cơ hội giúp người nghèo VN vay tiền. Cũng rất mong các bạn có điều kiện ở cả nước ngoài lẫn trong nước tham gia cho vay dù chỉ với một số tiền nhỏ. Với tỷ lệ hoàn vốn rất cao của Kiva số tiền của các bạn sẽ được quay vòng nhiều lần, giúp cho nhiều đồng bào khó khăn của chúng ta có môt chút vốn khởi nghiệp.


Note: Bạn nào muốn đăng ký làm user của Kiva để cho vay có thể vào trực tiếp website của tổ chức này hoặc click vào: http://www.kiva.org/invitedby/giang5498. Đây là link mời tham gia của tôi, nếu bạn đăng ký qua link này tôi sẽ được một tổ chức từ thiện thông qua Kiva bonus cho $25 credit để tiếp tục cho vay. Cám ơn các bạn.


Friday, February 28, 2014

Bitcoin regulation


Hôm qua chủ tịch Fed Janet Yellen trả lời chất vấn ở QH Mỹ đã nói Fed không có thẩm quyền để giám sát hoặc quản lý bitcoin. Lý do là luật Mỹ (Federal Reserve Act) giới hạn quyền của Fed chỉ được giám sát hệ thống ngân hàng trong khi bitcoin được giao dịch bên ngoài hệ thống này. Cũng trong hôm qua NHNN ra "Thông cáo báo chí về bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác" (link đến file .doc). Đọc bản thông cáo báo chí này, mặc dù có một số điểm tôi không hoàn toàn đồng ý (sẽ nói thêm bên dưới), có thể nói NHNN đã làm đúng chức năng và không vượt quá jurisdiction của mình tương tự như Yellen/Fed đã hành xử. Đây là điểm rất đáng khen của NHNN.

Một thông cáo báo chí của cơ quan quản lý nhà nước chỉ nêu ra quan điểm hoặc cung cấp số liệu, thông tin, sự kiện cho dân chúng biết, nó không phải là văn bản pháp luật liên quan đến chức năng, quyền hạn của cơ quan đó. Quan điểm của NHNN hay bất kỳ cơ quan nhà nước nào khác có thể đúng, có thể sai, báo chí và các chuyên gia có thể thảo luận, phản bác. Thậm chí những đối tượng bình thường chịu sự quản lý của NHNN (trong trường hợp này là các NHTM) có thể không thực hiện những khuyến cáo trong thông cáo báo chí cho đến khi có văn bản (dưới luật) chính thức được ban hành.

Tôi nghĩ NHNN hiểu rất rõ điều này nên đã viết "Về việc sử dụng bitcoin như là một loại tiền tệ hoặc phương tiện thanh toán, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có ý kiến như sau:..." (tôi nhấn mạnh). Rất tiếc báo chí khi đưa tin về thông cáo này không hiểu rõ điểm này nên có những title như "Việt Nam nói không với tiền ảo" hay "Việt Nam không chấp nhận tiền Bitcoin", hoặc nhẹ nhàng hơn như "Ngân hàng Nhà nước cảnh báo tiền ảo Bitcoin không hợp pháp" hay "Ngân hàng Nhà nước cảnh báo về tiền ảo Bitcoin". Cho dù ý kiến của NHNN là bitcoin không phải là đồng tiền và phương tiện thanh toán hợp pháp ở VN, đó mới chỉ là ý kiến chứ chưa phải qui định quản lý chính thức.

Vậy tại sao NHNN mới chỉ ra thông cáo báo chí chứ chưa đưa ra văn bản quản lý chính thức (thông tư, quyết định)? Có thể vì NHNN chưa có thời gian để tìm hiểu kỹ về bitcoin, có thể họ còn muốn quan sát xem các nước khác quản lý thế nào, có thể họ nghĩ không lâu nữa bitcoin sẽ chết nên chẳng việc gì phải mất công ra văn bản. Tôi nghĩ NHNN chưa thực sự hiểu về bitcoin vì cả 4 rủi ro/tác hại mà phần đầu của bản thông cáo đưa ra đều có vấn đề.

Thứ nhất, đúng là bitcoin có tính ẩn danh cao và đã trở thành công cụ cho giới tội phạm, nhưng đó không phải là rủi ro cho người sử dụng mà là khó khăn cho cơ quan quản lý. Về mặt ẩn danh tiền mặt (cash) cao hơn bitcoin, giới tội phạm từ trước đến nay sử dụng tiền mặt không hề ít nhưng đó không phải rủi ro cho người sử dụng và cũng không vì tính ẩn danh mà phải cấm sử dụng tiền mặt. Một điểm quan trọng mà bản thông cáo báo chí này không đưa ra/phân tích là liệu bitcoin có lợi ích gì cho người sử dụng bình thường hay không. Nếu chỉ có một lượng giao dịch nhỏ bitcoin cho các hoạt động phạm pháp trong khi lợi ích cho các hoạt động hợp pháp khác lớn thì có thể benefit của hệ thống bitcoin sẽ vượt cost và nên khuyến khích sử dụng đồng tiền này.

Thứ hai, đúng là bitcoin có rủi ro sẽ bị tấn công, đánh cắp và thất thoát trên thế giới ảo, nhưng rủi ro này có thực sự "rất lớn" hay không? So với rủi ro tiền mặt bị trộm cướp, thẻ tín dụng bị làm giả, tiền gửi ngân hàng bị "Huyền Như" thì rủi ro bitcoin bị mất lớn hơn bao nhiêu lần? Rủi ro đó có đến mức làm benefit của bitcoin giảm thấp hơn cost hay không? Ngay cả nếu rủi ro đó hiện tại khá lớn nhưng sự tiến bộ công nghệ trong thời gian tới có thể giảm rủi ro đó xuống hay không? Mt.Gox đóng cửa không khác gì một ngân hàng phá sản. Nếu có một hệ thống deposit insurance cho bitcoin thì tác động của một vụ đóng cửa như vậy sẽ được giảm thiểu.

Thứ ba, giá trị của bitcoin biến động mạnh và phức tạp đúng là rủi ro cho nhà đầu tư, nhưng bất kỳ loại hình đầu tư nào cũng có rủi ro, nhà đầu tư chấp nhận rủi ro thì họ tham gia. Đầu tư vào cổ phiếu ở VN cũng đầy rủi ro nhưng như vậy không có nghĩa nhà đầu tư không nên tham gia. Vấn đề là họ có hiểu rõ rủi ro đó hay không, điều này liên quan đến transparency/disclosure, và thị trường có công cụ để hedge rủi ro nếu họ cần tránh hay không. Bitcoin mới ra đời chưa lâu và còn trong giai đoạn định hình, có thể nó sẽ chết trong tương lai nhưng cũng có thể nó sẽ ổn định và phát triển thành một công cụ thanh toán có uy tín. Lúc đó có thể rủi ro của bitcoin sẽ không khác mấy rủi ro của một đồng tiền chính thức.

Thứ tư, đúng ra bitcoin "chưa" bị chi phối và kiểm soát bởi các cơ quan quản lý nhà nước và quốc tế, nhưng không có nghĩa là không bao giờ. Ngay cả hiện tại chưa có ai quản lý bitcoin, các giao dịch sử dụng bitcoin, và các dịch vụ liên quan đến nó, điều đó không có nghĩa người sở hữu bitcoin sẽ chịu toàn bộ rủi ro vì không có cơ chế bảo vệ quyền lợi. Tôi không rõ NHNN có văn bản nào thừa nhận việc thanh toán qua Paypal hay không nhưng các bên giao dịch bằng Paypal trên lãnh thổ VN hoàn toàn có quyền kiện nhau ra tòa kinh tế nếu có tranh chấp. Quyền lợi của họ được bảo hộ bằng các bộ luật kinh tế/dân sự khác. Việc bộ Tư pháp Nhật và Mỹ điều tra Mt.Gox là bằng chứng cho thấy cơ quan bảo vệ pháp luật vẫn có trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng cho dù bitcoin chưa được Fed hay BoJ quản lý.

Ở đây tôi xin nói rõ thêm một điểm về tính hợp pháp của một đồng tiền và tính hợp pháp của phương tiện thanh toán. Mỗi quốc gia chỉ có duy nhất một đồng tiền hợp pháp (legal tender), trừ một số trường hợp đặc biệt. Tính hợp pháp của đồng tiền quốc gia nằm ở chỗ nó phải được chấp nhận bắt buộc là phương tiện thanh toán cho các giao dịch kinh tế, nghĩa là nếu bạn mua hàng và trả bằng VND thì người bán trên lãnh thổ VN không có quyền từ chối nhận thanh toán bằng đồng tiền đó. Lưu ý rằng tính hợp pháp của đồng tiền không phải là điều kiện để giao dịch kinh tế được pháp luật bảo hộ. Một giao dịch bất hợp pháp bằng đồng tiền quốc gia vẫn có thể bị tòa không công nhận, ví dụ mua bán nội tạng không được công nhận ở hầu hết các nước trên thế giới và tòa sẽ không xử những vụ tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán nội tạng trừ khi có dấu hiệu hình sự.

Tính hợp pháp của một đồng tiền đồng nghĩa với nó là phương tiện thanh toán hợp pháp. Nhưng một quốc gia có thể có nhiều phương tiện thanh toán hợp pháp khác ngoài đồng tiền chính thức của quốc gia đó. Ví dụ có thể sử dụng ngoại tệ, vàng làm phương tiện thanh toán, hay có thể sử dụng hàng hóa và dịch vụ cho mục đích thanh toán (hàng đổi hàng). Trên thực tế bank credit có thể coi là một loại tiền tệ bán chính thức đồng thời là phương tiện thanh toán hợp pháp ở tất cả các nước. Khi bạn sử dụng credit card thanh toán cho một món hàng, ngân hàng tạo ra một phương tiện thanh toán hợp pháp cho bạn, nhưng đó không phải là đồng tiền hợp pháp. Người bán có quyền từ chối không nhận thanh toán bằng credit card hoặc không chấp nhận một số loại card và họ không hề phạm pháp.

Với đồng bitcoin hiển nhiên nó không là đồng tiền hợp pháp ở bất kỳ quốc gia nào vì nó không được một chính phủ nào tạo ra. Điều này không cần central bank đứng ra tuyên bố. Với nhiều nước ngay cả tính hợp pháp của phương tiện thanh toán cũng không nằm trong thẩm quyển của central bank, như trường hợp US Federal Reserve System tôi đã trích dẫn bên trên. Chỉ khi nào ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác sử dụng đồng tiền này làm phương tiện thanh toán thì Fed mới có quyền can thiệp. Bên ngoài hệ thống ngân hàng bitcoin được coi như một loại tài sản bình thường và được tồn tại cho đến khi  có luật cấm cụ thể (nếu có). Hầu hết các quốc gia đã tuyên bố quan điểm về bitcoin được liệt kê trong entry này của Wikipedia đều không cấm việc sở hữu, trao đổi bitcoin như một phương tiện thanh toán cá nhân, họ chỉ cảnh báo rủi ro cho người sử dụng tương tự như trong thông cáo báo chí của NHNN VN. Trường hợp duy nhất có văn bản cấm chính thức là PBoC (TQ) không cho phép các ngân hàng thanh toán bằng bitcoin. Nếu NHNN ra thông tư cấm các tổ chức tín dụng không được sử dụng bitcoin như đã tuyên bố trong thông cáo báo chí thì VN sẽ là nước thứ hai chính thức cấm. Thailand có một giai đoạn cấm nhưng đã bỏ lệnh này.

Tóm lại việc NHNN ra thông cáo báo chí nêu rõ quan điểm của mình về bitcoin và cảnh báo các rủi ro cho nhà đầu tư là một việc làm đúng đắn, cẩn trọng. Cá nhân tôi khuyến cáo NHNN chưa nên ra văn bản chính thức cấm hay cho phép giao dịch bitcoin trong hệ thống ngân hàng. Cần chờ thêm một thời gian nữa theo dõi sự phát triển của thị trường này và các chính sách regulation của các nước khác. Gần đây Nhật đã kêu gọi hợp tác quốc tế về việc quản lý bitcoin, bang New York của Mỹ cũng đang soạn thảo một số qui chế kiểm soát các tổ chức có hoạt động liên quan đến bitcoin. Trước mắt NHNN nên tìm cách thu thập số liệu về các hoạt động liên quan đến bitcoin trên lãnh thổ VN, tư vấn cho các cơ quan tư pháp và QH về các vấn đề hay tranh chấp liên quan đến đồng tiền này. Tôi hi vọng đến một ngày nào đó bitcoin hoặc một cryptocurrency khác sẽ trở thành một phương tiện thanh toán hợp pháp và phổ biến ở VN và trên thế giới.



Wednesday, February 26, 2014

Bitcoin inequality


Mấy hôm nay báo chí và thế giới mạng xôn xao về vụ Mt.Gox đóng cửa (có thể vì lý do một lượng lớn BTC bị hack) nên không mấy ai để ý đến một thông tin khác rất thú vị liên quan đến BTC. Theo thống kê từ Bitcoin Forum, đây là distribution lượng BTC đang được lưu hành trong nền kinh tế bitcoin ở 3 thời điểm khác nhau:



Các nhà kinh tế khi có trong tay một bộ số liệu income distribution (trong trường hợp này là wealth distribution) thường sẽ nghĩ ngay đến việc tính Gini coefficient để xem mức độ bất bình đẳng về thu nhập hay của cải trong một xã hội thế nào. Những ai chưa biết về Gini coefficient có thể tham khảo bài viết về chỉ số này rất chi tiết trên Wikipedia. Có thể tóm tắt ngắn gọn lại là vẽ cumulative income/wealth distribution trên một ô vuông có trục tung (biểu diễn income/wealth) và trục hoành (dân số) từ 0 đến 100%. Đồ thị này gọi là Lorenz curve (xem bên dưới). Gini coefficient là tỷ lệ diện tích phần A chia cho tổng A và B. Nếu Gini bằng 0 thì mọi thành viên trong xã hội có income/wealth bằng nhau, ngược lại nếu Gini bằng 100% thì tất cả income/wealth rơi vào tay một cá nhân. Gini tính theo income có giá trị dao động trong khoảng 25-60% (tham khảo bẳng này), tính theo wealth trong khoảng 60-85% (bảng này).



Vậy nền kinh tế Bitcoin có Lorenz curve và Gini coefficient như thế nào? Lưu ý ở đây tôi chỉ tính được Gini theo wealth distribution và giả định rằng trong 2 bracket cuối cùng mỗi người sở hữu số BTC ở giữa của backet đó. Ví dụ với bracket 0.01-0.1 tôi giả định mỗi người sở hữu 0.05 BTC. Diện tích phần B được tính gần đúng bằng cách lấy wealth trung bình của 2 bracket kế nhau nhân với tỷ lệ số người trong bracket đó. Dưới đây là Lorenze curve cho bộ số liệu cuối cùng (27/1/2014):



Có thể thấy ngay nền kinh tế này rất bất bình đẳng so với các nền kinh tế thực, một số nhỏ holder nắm phần lớn của cải (BTC) của nền kinh tế Bitcoin. Gini cho 3 thời điểm lần lượt là 97.3% (27/1/2014), 97.1% (3/12/2013), 93.5% (26/10/2013). Có một số lý do giải thích cho hiện tượng bất bình đẳng về wealth rất lớn này. Thứ nhất, những người đầu tiên tham gia vào hệ thống có thể mine BTC rất dễ và rất rẻ nên đã tích lũy được nhiều BTC từ thời đó. Người sở hữu số BTC lớn nhất chính là Satoshi Nakamoto với gần 1 triệu BTC (có thời điểm có giá trị hơn 1 tỷ USD). Thứ hai, một holder trong hệ thống bitcoin có thể không phải là một cá nhân mà là một tổ chức, có thể coi như một công ty hay ngân hàng trong nền kinh tế thực.

Lý do thứ ba gần với các nền kinh tế thực hơn và cũng đã được các nhà kinh tế thảo luận khá nhiều gần đây. Nền kinh tế bitcoin có hai đặc điểm dễ thấy là capital intensive và technological innovation. Để mine BTC hiện tại bạn phải cần rất nhiều vốn đầu tư vào hardware, trên thực tế tỷ lệ labor/capital của hoạt động mining gần như bằng không. Với các dịch vụ hỗ trợ như exchange hay wallet/bank có thể cần một số nhân viên giao dịch và IT staff, nhưng tỷ lệ labor/capital cũng không thể so được với traditional banking hay manufacturing/agriculture. Một nền kinh tế có tỷ lệ income trả cho capital owner nhiều sẽ càng ngày càng bất bình đẳng. Đây là thực tế xảy ra ở Mỹ trong giai đoạn 1970-2010.

[Update: Bạn Trung Bui trích dẫn một bài viết của Martin Feldstein (xem comment của Duy Linh bên dưới) cho rằng labor/capital income share của Mỹ rất stable trong giai đoạn 1970-2006. Bài này của Feldstein đã bị chỉ trích khá nhiều (vd Olivier Giovannoni) và cũng dễ hiểu vì Feldstein có khuynh hướng right wing. Tuy nhiên đến nay hầu hết các nhà kinh tế đều đồng ý rằng labor share của Mỹ đã giảm trong mấy thập kỷ qua, có thể tham khảo bài này của Brooking hay bài này trên QJE. Bạn chỉ cần search Google hoặc Google Scholar sẽ có rất nhiều bài viết về "declining labor share". Nhưng có lẽ nghiên cứu chi tiết nhất và được đánh giá rất cao là quyển “Capital in the Twenty-First Century” của Thomas Piketty (đọc review của The Economist ở đây). Quyển sách này đưa ra bằng chứng và giải thích sự gia tăng của capital share/sụt giảm labor share ở hầu hết các nước phát triển. Piketty cũng chỉ ra khả năng Kuznets curve không đúng như tôi viết bên dưới. Giống như "Why Nations Fail" quyển này cũng được giới kinh tế bàn tán rất nhiều, hi vọng sẽ được dịch ra tiếng Việt.]


Đặc điểm thứ hai của nền kinh tế bitcoin (technological innovation) cũng rất giống nền kinh tế thực. Từ trước vụ Facebook mua lại Whatsapp khá lâu nhiều người đã chỉ ra rằng sự thành công của một số nhỏ startup là một nguyên nhân quan trọng làm gia tăng khoảng cách income của Mỹ. Những người sáng tạo ra một innovation được xã hội chấp nhận (và một vài early adaptor như trường hợp BTC đã nói bên trên) sẽ được hưởng một phần rất lớn lợi ích kinh tế của innovation đó. Những innovator thành công này sau đó sẽ trở thành capital owner tiếp tục đầu tư vào các startup khác hoặc ngồi hưởng lợi tức từ phần capital của mình. Vòng xoáy này sẽ tiếp tục làm tăng inequality cả về income lẫn wealth.

Tóm lại tôi không bất ngờ khi thấy Gini coefficient của nền kinh tế bitcoin cao như vậy. VN với một nền kinh tế labor intensive và rất ít đột phá công nghệ nên có Gini tương đối thấp (35.6% cho income và 68.2% cho wealth). Trước đây các nhà kinh tế tin vào Kuznets curve, nghĩa là qui luật quan hệ giữa inequality và income per capita có hình chữ U ngược. Nhưng một số nghiên cứu gần đây cho thấy rất có thể quan hệ này không có cực đại (là đỉnh của chữ U lộn ngược) mà sẽ tăng liên tục, tất nhiên trừ khi có can thiệp của nhà nước (income transfer thông qua thuế). Nền kinh tế bitcoin được cho là thiên đường của chủ nghĩa libertarianism vì tránh được các can thiệp nhà nước, như vậy nhiều khả năng inequality trong nền kinh tế này sẽ tiếp tục tăng trong tương lai.


Update (25/2): Bạn Duy Linh có một quan sát rất thú vị về thu nhập của các ca sĩ so với các kịch sĩ. Để giải thích hiện tượng này tôi trích lại comment của bạn Nguyen Tung Son (post bên G+):

"Về bất bình đẳng thu nhập thì em thấy những lĩnh vực nào có MC bé thì MR=MC nên P sẽ nhỏ. Do đó giá cả không còn là yếu tố quyết định sự lựa chọn của khách hàng mà yếu tố chất lượng đóng vai trò chính. Lúc này một sản phẩm chỉ cần hơn các sản phẩm khác một tý cũng đủ để chiếm thế thượng phong. Và đặc biệt những sản phẩm mà có chi phí vận chuyển/phân phối nhỏ thì sản phẩm dù chỉ tốt hơn một tý cũng có khả năng thống lĩnh thị trường. Ví dụ các sản phẩm phần mềm, và đặc biệt là các dịch vụ internet. Do đó 2 người có tài năng chỉ nhỉnh hơn nhau tý thôi nhưng thu nhập thì có thể khác nhau rất nhiều."

Lập luận MC (marginal cost) thấp của bạn Nguyen Tung Son rất phù hơp cho trường hợp ca sĩ vs kịch sĩ vì những lý do kỹ thuật mà bạn Duy Linh đã chỉ ra. Thêm một khán giả trong một show ca nhạc hay bán thêm một cái đĩa CD có MC nhỏ hơn nhiều so với thêm một khán giả xem một vở kịch. Khi MC thấp (bao gồm cả chi phí vận chuyển) sản phẩm có thể sẽ có thị trường rất lớn vì nhà sản xuất (vd Đàm Vĩnh Hưng, Nguyễn Hà Đông, Nguyễn Quang Lập...) có thể bán với giá rất rẻ như bạn Nguyen Tung Son đã nói hoặc họ có thể dùng lợi nhuận để PR/marketing cho sản phẩm của mình, từ đây xây dựng user/customer base để tạo network effect như bạn Duy Linh nói. Ở đây chất lượng vượt trội có ý nghĩa quan trọng để nhà sản xuất có thể chiếm được mass market, nhưng còn một yếu tố rất quan trọng nữa cần phải có (thực ra là 2, yếu tô thứ hai là may mắn).

Đó là platform để nhà sản xuất có thể monetize được sản phẩm. Platform ở đây có thể là công nghệ, vd iTunes store và thị trường smartphone, có thể là luật pháp như intellectual property right law, hay có thể là một tầng lớp bầu sô/manager/supporting team có năng lực/thực lực. Tất nhiên vai trò của platform cũng rất quan trọng cho non-celebrity producer, nhưng chọn được right platform có ý nghĩa rất quan trọng để một producer trở thành superstar, bên cạnh tài năng của chính anh/chị ta. The Economist cách đây không lâu có một bài viết cực hay về khái niệm platform, highly recommended.



Thursday, February 13, 2014

Big Mac Index


1.
Đầu tháng 2/2014 cái tên Vietnam xuất hiện rất nhiều trên báo chí quốc tế nhờ vào ... Flappy Bird và McDonald's. Trái với Flappy Bird đến và đi rất nhanh, franchise McDonald's đầu tiên của VN đã phải mất gần mười năm mới mở cửa được và chắc sẽ ở lại mảnh đất này lâu dài. Nếu Thomas Friedman đúng, sự hiện diện của McDonald's biết đâu sẽ giúp VN tránh được đụng độ quân sự với anh láng giềng phương Bắc trong những năm tới(*). Trước mắt sự hiện diện của McDonald's đã giúp cho VN lọt vào danh sách thành viên của Big Mac Index (BMI) của tạp chí The Economist. Mặc dù ý nghĩa kinh tế và học thuật của BMI không đáng kể (ý tưởng BMI có nguồn gốc từ một lời nói đùa), việc VN được một tạp chí kinh tế tài chính hàng đầu thế giới quan tâm là một tín hiệu đáng mừng (**).

(*) Trong quyển The Lexus and the Olive Tree năm 1999, Thomas Friedman đã đưa ra một giả thuyết gọi là "Golden Arches Theory of Conflict Prevention", theo đó 2 quốc gia cùng có sự hiện diện của McDonald's sẽ không gây chiến với nhau. Mặc dù đã có một vài ngoại lệ, thuyết này cho đến nay về cơ bản khá chính xác.

(**): Hiện tại McDonald's đã có mặt ở 122 quốc gia, tuy nhiên BMI chỉ bao gồm 44 quốc gia và vùng lãnh thổ (thực tế là 55 quốc gia nhưng 12 nước trong EMU đã được gộp chung lại trong một chuỗi index sau khi đồng Euro ra đời).


2.
Khi nói về BMI người ta thường đề cập đến khái niệm Purchasing Power Parity (PPP), ở đây tôi sẽ giải thích kỹ hơn về khái niệm này để tránh nhầm lẫn (bạn nào không quan tâm đến học thuật có thể bỏ qua đoạn này). Trước hết cần phân biệt "lý thuyết" PPP do Gustav Cassel đưa ra năm 1918 với "tỷ giá" PPP do University of Pennsylvania đưa ra từ những năm 1960 và hiện được World Bank quản lý. Hai khái niệm này có cùng gốc gác nhưng hiện được sử dụng độc lập với nhau và rất dễ hiểu nhầm.

Gustav Cassel, nhà kinh tế người Thụy điển cùng thời với Keynes và Hayek, đưa ra ý tưởng xác định tỷ giá giữa 2 đồng tiền dựa vào một qui luật kinh tế khá lâu đời là "law of one price" (LOP), theo đó một loại hàng hóa nhất định sẽ chỉ có thể có một giá dù được mua bán ở các địa điểm khác nhau (nếu không arbitrage sẽ nhanh chóng xảy ra và giá sẽ được quân bình). Cassel cho rằng nếu chi phí vận tải không đáng kể và giữa 2 quốc gia không có hàng rào thuế quan thì LOP sẽ dẫn đến việc tỷ giá giữa hai đồng tiền của hai quốc gia đó phải ở mức đảm bảo giá của một mặt hàng giống nhau ở 2 bên biên giới phải như nhau dù niêm yết bằng đồng tiền nào cũng vậy.

Nói nôm na nếu một chiếc xe hơi ở Mỹ có giá 50000 USD còn ở VN giá 1 tỷ VND thì tỷ giá VNDUSD tuân theo lý thuyết PPP sẽ phải là 20000 VND/USD (giả sử chi phí chuyên chở và thuế quan không đáng kể). Điều này đảm bảo rằng sức mua của 50000 USD ở Mỹ hay ở VN đều như nhau, hay ngược lại sức mua của 1 tỷ VND ở đâu cũng vậy miễn là hai đồng tiền này được tự do chuyển đổi. Đó là lý do của tên gọi Purchasing Power Parity. Khi tỷ giá thực tế không đảm bảo LOP hoặc PPP, một đồng tiền sẽ bị cho là undervalued hoặc overvalued so với đồng tiền kia. Ví dụ nếu giá xe hơi ở Mỹ và VN vẫn giữ như trên nhưng tỷ giá thị trường là 21000 VND/USD thì VND bị cho là undervalued hay USD bị overvalued. Nói cách khác giá của chiếc xe đó ở VN nếu qui đổi sang USD sẽ là 47679 USD, rẻ hơn so với giá ở Mỹ nên LOP không còn đúng nữa và tỷ giá đã không tuân theo PPP.

Giới kinh tế học gọi lý thuyết PPP như trình bày bên trên là absolute PPP, nghĩa là PPP áp dụng cho mặt bằng giá (level) của các loại hàng hóa(#). Mặc dù lý thuyết này rất dễ hiểu và có vẻ chặt chẽ, không cần là chuyên gia kinh tế bạn cũng có thể chỉ ra hàng loạt lý do absolute PPP không thể đúng trên thực tế. Ai cũng có thể thấy giá (tính ra USD) của rất nhiều mặt hàng ở VN khác xa so với giá ở nước ngoài, từ xe hơi, đồ điện tử, cho đến thuốc uống, sữa trẻ em. Trong hàng chục năm qua các nhà kinh tế đã sử dụng rất nhiều kỹ thuật kiểm định từ đơn giản đến hiện đại để tìm cách chứng mình LOP và PPP nhưng đa số đã thất bại (xem thêm entry này). Bởi vậy một phiên bản PPP ít chặt chẽ hơn được đưa ra, gọi là relative PPP. Theo lý thuyết này bất kể LOP hiện tại có đúng hay không tốc độ thay đổi tỷ giá của hai đồng tiền giữa hai thời điểm phải phản ánh tốc độ lạm phát của hai quốc gia.

Quay lại ví dụ giá xe hơi bên trên. Giả sử giá xe năm 2013 là 50000 USD ở Mỹ và 1 tỷ VND ở VN, tỷ giá hiện tại là 21000 VND/USD. Nếu trong năm 2014 lạm phát ở VN là 10%, nghĩa là giá xe sẽ tăng lên 1.1 tỷ VND, trong khi lạm phát ở Mỹ chỉ là 2%, giá xe tăng lên 51000 USD, thì tỷ giá sẽ tăng lên 8% (= chênh lệch lạm pháp) nghĩa là 22680 VND/USD. Trong trường hợp này relative PPP đúng và sức mua giữa hai năm 2013 và 2014 không thay đổi. Hay nói theo ngôn ngữ kinh tế học là tỷ giá thực (real exchange rate) không thay đổi. Đa số các nhà kinh tế cho rằng absolute PPP không đúng trên thực tế, may ra relative PPP có thể đúng dù có cũng có nhiều lý do ảnh hưởng đến đọ chính xác của nó (vd chi phí vận tải, hàng rào thuế quan, có nhiều loại hàng hóa, dịch vụ không vận chuyển được, bản chất nền kinh tế khác nhau).

Tóm lại lý thuyết absolute PPP liên quan đến mặt bằng giá ở một thời điểm, relative PPP liên quan đến tốc độ trượt giá tương đối ở hai thời điểm. Với absolute PPP bạn có thể nói tại một thời điểm tỷ giá của một đồng tiền bị under/overvalued, với relative PPP có thể nói tốc độ devaluation/appreciation của một đồng tiền giữa hai thời điểm có phản ánh đủ chênh lệch lạm phát hay không. Giới báo chí (như trường hợp BMI của The Economist) và đa số người dân thường chỉ hiểu PPP theo nghĩa absolute. Giới finance dù hầu như chỉ quan tâm đến relative PPP cũng hay giả định tỷ giá xuất phát điểm phản ánh đúng absolute PPP nên sau một giai đoạn nếu relative PPP đúng thì absolute PPP cũng đúng. Giới kinh tế học hầu như chỉ quan tâm đến relative PPP, trừ một số nhỏ mà tôi sẽ trình bày dưới đây.

(#) Chữ "absolute" trong toán học chỉ giá trị tuyệt đối, nghĩa là giá trị không tính đến dấu. Tôi không hiểu tại sao trong finance và thỉnh thoảng trong kinh tế học (như trong trường hợp ý thuyết PPP này) chữ "absolute" lại được dùng thay cho "level" để phân biệt với "growth rate".


3.
Cuối thập kỷ 1960 một số nhà kinh tế ở University of Pennsylvania, cái nôi của hệ thống tài khoản quốc gia SNA sau này, nảy ra ý tưởng so sánh GDP (thời đó phổ biến là GNP) của các nước với nhau. Vì GDP của mỗi nước được thống kê bằng đồng nội tệ của mình, muốn so sánh phải chuyển đổi về một đồng tiền chung. Vấn đề là nếu tỷ giá thị trường tuân thủ theo absolute PPP thì việc chuyển đổi mới có ý nghĩa, bằng không một chiếc xe hơi ở nước này khi định giá bằng đồng tiền khác sẽ có thể nhiều hơn hoặc ít hơn một chiếc xe hơi tương đương ở nước được so sánh. Trong ví dụ xe hơi đầu tiên khi VN chuyển đổi một chiếc xe hơi sản xuất trong nước giá 1 tỷ VND sang USD với tỷ giá 21000 VND/USD, chiếc xe đó sẽ chỉ bằng 0.95 một chiếc xe sản xuất ở Mỹ. Như vậy khi tỷ giá thị trường không phản ánh được sức mua tương đương cần phải xác định một loại tỷ giá cho mục đích chuyển đổi GDP để không bị tình trạng so sánh cam với táo. Tỷ giá hiệu chỉnh này được gọi là tỷ giá PPP còn nghiên cứu ban đầu của UPenn đó được UN tiếp quản và phát triển gọi là International Comparison Program (ICP). ICP sau này được chia cho OECD và WB quản lý mà nhiệm vụ chính là tính tỷ giá PPP cho từng quốc gia để đảm bảo việc so sánh GDP giữa các nước có ý nghĩa.

Nếu nền kinh tế chỉ có một loại hàng hoá duy nhất thì việc tính tỷ giá PPP quá đơn giản. Trong ví dụ xe hơi bên trên tỷ giá thị trường là 21,000 còn tỷ giá PPP là 20,000.  Tạp chí The Economist đã tính "tỷ giá PPP" dựa vào một loại hàng hoá duy nhất là chiếc bánh Big Mac của McDonald's cho các nước thành viên của BMI. Với VN tỷ giá PPP theo BMI là 12,975 VND/USD đảm bảo sức mua bánh Big Mac ở VN và Mỹ như nhau. Như vậy với tỷ giá thị trường hiện tại xấp xỉ 21,000 VND đang bị undervalued tính theo sức mua Big Mac. Tất nhiên không nền kinh tế nào đơn giản như vậy mà thường phải có hàng triệu mặt hàng khác nhau, tỷ giá PPP phải đảm bảo tính chất ngang bằng sức mua cho một rổ các loại hàng hoá đó. Phức tạp hơn một chiếc xe hơi sản xuất ở VN dù có thể cùng hiệu Toyota nhưng chắc chắn sẽ khác một chiếc Toyota ở Mỹ về nhiều mặt nên dù chỉ cần tính tỷ giá PPP cho xe hơi cũng phải cân nhắc và hiệu chỉnh nhiều thứ. Chưa kể có những loại hàng hoá dịch vụ ở Mỹ có mà VN không có hoặc ngược lại, hoặc những loại hàng hoá không vận chuyển được như bất động sản. Bởi vậy việc tính toán tỷ giá PPP vô cùng phức tạp và tốn kém, bản thân UN, OECD và WB cũng chỉ tổ chức khảo sát và ước tính tỷ giá PPP cho các nước vài năm một lần. Tỷ giá PPP cho dù được tính toán cẩn thận đến đâu cũng không thể chính xác và hầu như chỉ để so sánh GDP giữa các nước.

Năm 2012 GDP đầu người của VN do World Bank công bố nếu tính theo tỷ giá thị trường VNDUSD là 1750 USD, còn tính theo tỷ giá PPP của chương trình ICP là "3787 international dollar" hay "3787 dollar at PPP". Như vậy tỷ giá PPP chỉ bằng 46% tỷ giá thị trường năm 2012, nghĩa là khoảng 9730 VND/dollar at PPP. Cùng năm đó GDP đầu người của Mỹ là 51,749 và Cambodia là 2454 international dollar, như vậy một người VN có sức mua bằng 7.3% một người Mỹ đồng thời bằng 154.3% một người Cambodia (nếu so sánh theo tỷ giá thị trường thì 2 con số này lần lượt là 3.4% và 185.9%). Như đã nói bên trên tỷ giá PPP chỉ dùng để so sánh GDP/sức mua giữa các nước chứ nếu nói VND undervalued vì số 9730 nhỏ hơn số 21,000 sẽ không chính xác. Tuy nhiên vì international dollar luôn được qui định bằng với USD, nghĩa là GDP của Mỹ tính theo tỷ giá PPP luốn bằng với GDP tính theo "tỷ giá thị trường" nên con số 9787 nói trên có thể hiểu theo nghĩa là tỷ giá VNDUSD tính theo sức mua GDP (do chương trình ICP tính toán, tương tự như BMI tính theo sức mua Big Mac do The Economist tính toán).

Bên cạnh hai loại tỷ giá này WB còn tính theo một loại tỷ giá thứ ba áp dụng lý thuyết relative PPP gọi là "dollar by Atlas method". Thực tế đây là một cách làm tắt, dễ hơn và rẻ hơn so với absolute PPP của chương trình ICP. Phương pháp này tính tỷ giá Atlas để chuyển đổi GNI từ một đồng nội tệ sang dollar bằng cách lấy trung bình tỷ giá thị trường của 3 năm, trong đó 2 năm đầu được hiệu chỉnh chênh lệch lạm phát như theo relative PPP. Hiện tại WB thống kê và công bố GNI theo Atlat method chứ không công bố GDP. Năm 2012 GNI đầu người của VN sử dụng tỷ giá Atlas là 1550 trong khi tính theo tỷ giá PPP là 3650. Lưu ý tất cả các con số trên đây đều là nominal, nghĩa là không loại trừ ảnh hưởng của lạm phát. GDP/GNI tính theo tỷ giá thị trường, Atlas, hay PPP đều có thể tính theo giá cố định của một năm gốc nào đó (real), tôi sẽ không đi sâu thêm về vấn đề này ở đây.


4.
Quay lại BMI và giá một chiếc Big Mac ở SG khi qui đổi sang USD. Tôi đoán không ít người đã bất ngờ khi The Economist cho biết VND đang undervalued dựa vào cách tính BMI của họ. Từ trước tới nay có không ít người cho rằng VND đã bị overvalued quá nhiều dẫn đến hàng hoá VN bị mất dần sức cạnh tranh, cả ở trong nước lẫn khi xuất khẩu. Bản thân tôi đã không dưới một lần khuyến nghị cần phải phá giá VND, nhiều chuyên gia khác cũng có quan điểm như vậy (cũng có những người có ý kiến ngược lại). Vậy có phải phe ủng hộ phá giá đã sai? Tất nhiên lập luận rằng VND đang bị undervalued dựa vào absolute PPP và chỉ một mặt hàng duy nhất mới hiện diên ở VN được vài ngày thì chưa chắc đã chính xác. Nhưng vấn đề không chỉ có vậy.

Ở VN mỗi khi một vị quan chức nào đó nói giá điện hay giá xăng ở VN tính ra USD vẫn còn rẻ hơn ở nhiều nước trong khu vực người dân ngay lập tức lập luận rằng nhưng thu nhập của họ gấp mấy lần của ta. Các nhà kinh tế cũng lập luận y như vậy, mà cụ thể là những người xây dựng BMI của The Economist. Trên trang web chuyên đề BMI của tạp chí này có đồ thị sau:


Trục hoành của đồ thị là GDP đầu người (nominal) năm 2011 qui đổi ra USD theo tỷ giá thị trường (số liệu do IMF công bố, có hơi khác so với số liệu của WB), còn trục tung là giá một chiếc Big Mac qui đổi ra USD theo cùng tỷ giá. Mỗi điểm tròn trên đồ thị là một nước thành viên của BMI, điểm mầu xanh ở bên cực trái là VN (tôi vẽ thêm vì The Economist chưa cập nhật). Đường mầu đỏ là ước lượng tuyến tính (OLS) giữa 2 đại lượng này, nghĩa là với một mức GDP đầu người nhất định chúng ta có thể dự đoán được giá một cái Big Mac là bao nhiêu. Trong một bài báo năm 2011 tạp chí The Economist lập luận rằng đánh giá mức độ over/undervalued của một đồng tiền dựa vào BMI ít nhất phải hiệu chỉnh cho mức độ chênh lệch GDP đầu người. Cụ thể là không nên so sánh giá một cái Big Mac ở VN là 2.84 USD với một cái ở Mỹ giá 4.62 USD để kết luận VND đang bị undervalued. Chính xác hơn phải so sánh giá 2.84 với mức giá trên đường mầu đỏ có vị trí trục hoành bằng với GDP đầu người của VN (gọi là fitted value hoặc fair value). Ước lượng của tôi sử dụng số liệu GDP đầu người năm 2012 do IMF công bố fitted value cho Big Mac ở VN là 2.84 USD, nghĩa là tỷ giá thị trường VNDUSD gần như chính xác với tỷ giá absolute PPP tính theo BMI. Không rõ Nguyễn Bảo Hoàng có dùng công thức này để tính giá cho Big Mac ở SG hay không.

Như vậy sau khi hiệu chỉnh BMI cho GDP theo đầu người, VND gần như đang ở mức fair value (VN nằm trên đường mầu đỏ). Vậy có cần/nên phá giá VND nữa hay không? Như đã nói bên trên không ai dựa vào BMI để ra quyết định về chính sách tiền tệ/tỷ giá. Nhưng ngay cả nếu chỉ nhìn vào đồ thị này tôi vẫn muốn thấy VN nằm bên dưới chứ không phải bên trên đường mầu đỏ. Điểm có khoảng cách xa đường mầu đỏ nhất ở phía trên là Brazil, còn phía dưới là Hong Kong/Japan. Không biết bạn thế nào chứ tôi prefer Hong Kong/Japan hơn là Brazil (về sức cạnh tranh). Bởi vậy quan điểm của tôi vẫn là nên phá giá VND để tính theo BMI đồng nội tệ của VN undervalued từ 30 đến 40% giống như 2 nước châu Á nói trên.



Wednesday, January 15, 2014

Vietnam 2013


1.
Dưới đây là mẩu đối thoại giữa tôi và anh công an cửa khẩu Tân Sân Nhất một ngày cuối tháng 12/2013:

- Chào anh Giang, ba năm rồi anh mới về thăm nhà nhỉ.
- Vâng, lần cuối tôi về hồi...
- À anh về lần cuối năm 2010. Anh Giang làm việc ở Singapore à?
- Không tôi làm việc ở Úc, chỉ quá cảnh qua Singapore thôi.
- Anh về nghỉ có lâu không?
- Tôi về được 3 tuần.
- Thủ tục của anh xong rồi, chúc anh một kỳ nghỉ vui vẻ.

Đi qua khỏi cửa khẩu tôi vẫn còn ngỡ ngàng về thái độ lịch sự của người cán bộ trẻ này. Dù những mẩu đối thoại thân thiện như vậy ở cửa khẩu có thể còn rất hiếm, dù ngay sau đó tôi có một trục trặc nhỏ với cán bộ hải quan kiểm tra hành lý, đây chắc chắn là một tín hiệu đáng mừng về thái độ phục vụ của các cơ quan công quyền VN. Những ngày sau đó ở VN tôi có dịp tiếp xúc với một cán bộ của Uỷ ban nhân dân Q.7, một anh cảnh sát giao thông trên đường Nguyễn Văn Linh, cảm giác chung vẫn là thái độ phục vụ của công chức đã nhã nhặn hơn rõ rệt so với trước đây. Hi vọng tôi không nhầm.

Không chỉ các cơ quan công quyền, hầu như tôi không có phàn nàn gì về thái độ phục vụ của hầu hết nhân viên trong private sector. Từ những anh lái xe taxi, phục vụ nhà hàng, bảo vệ chung cư, đến nhân viên bán hàng, hướng dẫn du lịch, ai cũng thân thiện và chuyên nghiệp hơn trước. Nền kinh tế đang dịch chuyển sang service sector bắt đầu từ những con người cụ thể như vậy.


2.
Ngày cuối cùng trước khi rời VN tôi đến một chi nhánh của BIDV để chuyển một ít tiền đóng góp cho chương trình Nhịp cầu Hoàng Sa(*) nghe "lóm" được mẩu đối thoại sau:

- Chị ơi cho tôi hỏi lãi suất gửi tiết kiệm ở đây là bao nhiêu phần trăm?
- Sáu phần trăm chị ạ.
- Sao thấp thế chị? Có ngân hàng khác nhận gửi tiết kiệm bảy phần trăm cơ mà.
- Chị thông cảm, bọn em là ngân hàng nhà nước mà.

Dường như việc khu vực kinh tế nhà nước làm ăn kém cạnh tranh hơn private sector đã trở thành một điều hiển nhiên ở VN, không chỉ với các nhà kinh tế mà còn với đa số người dân. Vậy nhưng bản Hiến pháp mới vừa được QH thông qua vẫn khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Nếu cuối thập kỷ 1980 một vài biện pháp tháo gỡ kinh tế đã khởi đầu cho một giai đoạn phát triển vượt bực, ngày nay tháo gỡ vòng kim cô kinh tế nhà nước chắc chắn sẽ là chìa khoá cho một cuộc đổi mới kinh tế lần hai. Thay vì cứ bắt dân chúng phải "thông cảm", các nhà lãnh đạo nên vượt qua rào cản tư tưởng để đất nước có cơ hội phát huy hết tiềm năng của mình. Mèo đen mèo trắng không quan trọng, miễn là bắt được chuột.

(*): Chương trình Nhịp cầu Hoàng Sa do một số anh chị phóng viên khởi xướng với mục đích quyên góp tiền giúp đỡ thân nhân những liệt sĩ đã hi sinh trong trận chiến giữ đảo Hoàng Sa năm 1974. Đây cũng là một hoạt động nhằm tuyên truyền và giáo dục thế hệ trẻ về chủ quyền của VN trên quần đảo này dù TQ đã chiếm đóng trái phép nó 40 năm qua. Cá nhân tôi thấy đây là một chương trình rất nhân văn và cần thiết nên mong muốn các bạn đọc của blog tham gia nếu có điều kiện. Có thể là một đóng góp nhỏ cho quĩ, có thể là tìm hiểu thêm và giới thiệu cho bạn bè, người thân về chủ quyền của VN ở Hoàng Sa và những liệt sĩ đã ngã xuống bảo vệ quần đảo này. Rất mong sẽ có một chương trình tương tự cho các liệt sĩ ở Trường Sa.


3.
Không chỉ với Nhịp cầu Hoàng Sa, nhiều hoạt động từ thiện đáng quí khác cũng đang diễn ra sôi động hoặc âm thầm. Dự án "Cơm treo" mà tôi đã có lần đề cập đến trên blog này đã có được 9 địa điểm nhận phát hành voucher. Dù chưa nổi tiếng bằng chương trình "Cơm có thịt", lòng nhiệt tình của các bạn trẻ vận hành dự án "Cơm treo" làm tôi rất khâm phục.

Nếu "Cơm treo" phát hành voucher để huy động quĩ một cách trực tiếp và low-cost nhất cho các quán cơm Nụ cười, dự án "Bgood.vn" có một cách tiếp cận low-cost khác với các mạnh thường quân để giúp đỡ cho các bạn sinh viên nghèo vượt khó. Kết hợp giữa công nghệ và hình thức cloud-sourcing, bgood.vn, một website do một chuyên gia tài chính tại SG xây dựng nhằm kết nối trực tiếp nhà tài trợ với các bạn sinh viên cần giúp đỡ. Dù còn nhiều điều phải cải thiện, với khẩu hiệu "Không để sinh viên nghèo phải nghỉ học vì thiếu tiền đóng học phí", bgood.vn đang đi đúng hướng. Mạng xã hội trên không gian ảo đã và đang làm thay đổi xã hội thực, có thể thấy điều này rất rõ trong các hoạt động từ thiện.


4.
Trên đường từ sân bay Tân Sân Nhất về nhà, nhận xét đầu tiên của tôi là đường xá SG đã thông thoáng hơn nhiều so với cách đây 3 năm. Nhiều người giải thích rằng đó là vì SG đã có thêm nhiều cầu vượt, hầm chui, đại lộ mới, và nhất là gần như không còn "lô cốt" trên các tuyến đường chính. Tất nhiên đó là những điều rất đáng mừng, tuy nhiên sau 3 tuần quan sát tôi có cảm giác giao thông thành phố này "dễ thở" hơn có lẽ còn vì các hoạt động kinh tế đã kém sôi động hơn so với trước kia. Các công trình xây dựng lớn không còn nhiều, sức mua ở các trung tâm mua sắm lớn có vẻ giảm đi đáng kể, ngay cả các quán nhậu bình dân ven đường cũng không còn náo nhiệt như cách đây vài năm. Điều này phù hợp với tình hình kinh tế chung của cả nước.

Nhưng bất chấp mật độ giao thông giảm xuống, tình trạng ô nhiễm không khí có vẻ trầm trọng hơn. Trong suốt 3 tuần tôi ở SG không ngày nào tôi nhìn thấy bầu trời xanh và không tối nào tôi thấy trăng sao dù trời không hề mây. Thấy báo đài nói đó là sương mù do giai đoạn này khí hậu khu vực SG có nhiều biến động, tôi ngờ rằng lý do chính là smog tương tự như tình trạng ô nhiễm của Bắc Kinh và Thương Hải. Chỉ cần lên khu vực làng đại học Thủ Đức là bầu trời đã khác, biến đổi khí hậu không thể ảnh hưởng mỗi trung tâm SG. Giải pháp lâu dài cho cả vấn đề ô nhiễm lẫn giao thông là giãn dân và các hoạt động kinh tế, hành chính khỏi chung tâm thành phố. Chạy theo nhu cầu giao thông bằng cách mở đường, xây cầu vượt, đường trên cao... vừa tốn kém và làm xấu bộ mặt thành phố, vừa không giải quyết triệt để được các vấn đề đô thị nói trên.

Qui hoạch giãn đô thị còn giúp cho vấn đề bảo tồn những công trình kiến trúc và khu phố cổ. Mặc dù Thủ Thiêm đã có một vài complex nhà cao tầng và đường xá mới, khu đô thị này đáng ra phải được phát triển sớm hơn và nhanh hơn để giải toả sức ép xây dựng cho trung tâm Q.1. Hi vọng với hầm chui và các cây cầu mới qua sông SG, bờ Đông con sông này sẽ thu hút các nhà đầu tư và dân cư hơn để thành phố không tiếp tục bị mất những ngôi nhà, biệt thự cổ, là chứng tích của biết bao thăng trầm lịch sử.


5.
Nói về bảo tồn kiến trúc đô thị chắc không đâu ở VN làm tốt bằng Hội An. Tôi có mấy ngày về quê ở Quảng Nam và tranh thủ ghé thăm Hội An. Dù du khách đông đúc hơn nhiều tôi vẫn cảm nhận được cái khung cảnh hơn 15 năm trước khi lần đầu tới đây. Tất nhiên so sánh SG với Hội An có quá nhiều khập khiễng, nhưng phải nói chính quyền của cái thị trấn nhỏ này đã rất có tầm nhìn và giữ được kỷ cương trước các cám dỗ bán đất đai làm du lịch. Không phải vô cớ mà Hội An luôn được khách du lịch quốc tế tìm đến, nhiều bạn bè Úc của tôi ở đây khi đi VN về đều có ấn tượng rất tốt với thành phố này.  Thậm chí một cặp vợ chồng già đã sang thuê nhà ở lại Hội An dài hạn, vừa du lịch vừa làm từ thiện. Một buổi tối đi dạo trên những con phố cổ của Hội An nghe nhạc cổ điển phát ra từ các cặp loa gắn trên các trụ đèn ven đường, tôi tự nhủ hoá ra "loa phường" không phải ở đâu cũng tệ.

Bên cạnh Hội An, Đà Nẵng dường như có một mô hình phát triển hoàn toàn khác. Thành phố này bán hết các bãi biển đẹp cho tư nhân đầu tư, cả khu du lịch trên núi Bà Nà cũng được bán cho một "soái Nga". Mặc dù tôi có nghe một vài lời bàn ra tán vào về việc chia chác ở Đà Nẵng, có thể nói thành phố này đã rất thành công trong qui hoạch và phát triển đô thị (dựa vào tiền bán đất?). Đường xá khang trang, khá sạch và qui củ so với SG, cảnh sát giao thông không nhũng nhiễu (tôi chứng kiến tận mắt), sân bay hiện đại, tiện nghi, đã cho tôi cảm giác Đà Nẵng sẽ còn tiến xa. Có thể chiến lược phát triển của Đà Nẵng khác với Hội An, nhưng tôi tin lãnh đạo ở hai địa phương này đều có tâm và có tầm, đáng để người dân hi vọng.

Trái với cảm giác lạc quan khi ra Đà Nẵng và Hội An, mấy ngày tôi đi nghỉ ở Đà Lạt làm tôi lo ngại cho thành phố này dù con người ở đây thật tốt. Cũng là một thành phố du lịch nhưng Đà Lạt hầu như không thu hút được khách nước ngoài, mấy ngày tôi ở đây chỉ nhìn thấy vài du khách Nga và một số du khách Nhật (hoặc Hàn quốc). Dù Đà Lạt là vựa rau và vựa hoa cho toàn miền Nam (hình như nay đã bán ra cả miền Bắc) kinh tế ở đây có vẻ không khởi sắc, có thể trong xu hướng chung của kinh tế cả nước trong vài năm lại đây. Thành phố Đà lạt rất thanh bình và có lẽ khá bảo thủ (kiên quyết không lắp đèn giao thông), nhưng giống như SG thành phố này dường như không thể chống chọi được với làn sóng xây dựng mới và phế bỏ nhiều công trình kiến trúc cổ. Đi qua một ngôi biệt thự mới xây khá diêm dúa gần Dinh 2 (được giới thiệu là nhà của bí thư tỉnh uỷ), tôi không khỏi có cảm giác thất vọng và thương cảm cho những người bạn Đà Lạt mới gặp của mình. Họ xứng đáng có một thành phố đẹp hơn.


6.
Nói chuyện với một anh bạn vong niên, hiện là chủ một doanh nghiệp tầm trung (doanh số hơn chục triệu USD/năm), nghe được hai điều thú vị về doanh nghiệp của bạn mình. Đầu tiên là sự chuyển dịch kinh doanh từ một ngành dịch vụ tại các đô thị lớn sang nông nghiệp với kế hoạch phát triển một chuỗi sản xuất nông nghiệp hiện đại và khép kín. Ba năm trước tôi đã được biết một quĩ đầu tư ở SG đổ tiền xuống miền Tây, lần này về thấy làn sóng đầu tư vào nông nghiệp sôi động lên nhiều. Những tên tuổi lớn bỏ tiền vào nông nghiệp/nuôi trồng thuỷ sản như CP, Minh Phú, Hoàng Anh Gia Lai, Bảo vệ thực vật An Giang đã đành, bạn tôi vốn không có kinh nghiệm gì về nông nghiệp cũng nhảy vào lĩnh vực này thì đó là dấu hiệu rất khả quan cho agri-sector của VN.

Có thể những lĩnh vực đầu tư truyền thống (manufacturing, real estate...) không còn nhiều lợi nhuận thậm chí lỗ là lý do buộc cách doanh nghiệp VN phải quay sang nông/ngư nghiệp. Nhưng chuyến thăm doanh nghiệp Rừng Hoa ở Đà Lạt cho tôi cảm giác VN có thể áp dụng những công nghệ rất tiên tiến vào nông nghiệp để tạo ra một cuộc cách mạng productivity lần hai (lần đầu diễn ra khi hệ thống hợp tác xã nông nghiệp được xoá bỏ hồi đầu thời kỳ đổi mới). Với vốn liếng dồi dào, công nghệ tiên tiến, trình độ quản lý hiện đại, những nhà đầu tư như bạn tôi có thể sẽ làm thay đổi diện mạo nông thôn VN trong những năm tới. Rào cản lớn nhất cho tiến trình này vẫn là những qui định quản lý nhà nước bất cập, hệ thống hành chính quan liêu, đến mức bạn tôi phải mở một văn phòng ở HN và để CEO ngồi làm việc ở đó để tiện "liên hệ" với các bộ ngành.

Điều ngạc nhiên thứ hai là CEO bạn tôi thuê là một người nước ngoài. Việc doanh nghiệp VN thuê CEO và các lãnh đạo cao cấp người nước ngoài không mới. Nhiều doanh nghiệp và ngân hàng lớn đã làm điều này từ lâu, nhưng một doanh nghiệp tầm trung như bạn tôi thuê CEO nước ngoài thì đó là một cột mốc quan trọng trong thị trường quản trị doanh nghiệp dù đó có thể là một trường hợp cá biệt. Sở dĩ tôi nghĩ điều này quan trọng vì khi nhân sự nước ngoài đã trở nên phổ biến (đến mức không chỉ những doanh nghiệp rất lớn mới thuê được), hệ thống doanh nghiệp nhà nước sẽ buộc phải tính đến chuyện thuê CEO hoặc các nhân sự cấp cao khác từ nước ngoài. Rồi không chỉ giới doanh nghiệp, biết đâu một ngày nào đó NHNN sẽ thuê một giáo sư kinh tế tên tuổi từ MIT sang làm thống đốc.


7.
Tất nhiên đó chỉ là một giấc mơ đẹp cho tương lai, ở thời điểm hiện tại một phó tổng giám đốc trong ngành dầu khí cho tôi biết Bộ Tài chính đang có kế hoạch đặt mức lương trần cho các vị trí chủ chốt ở các doanh nghiệp nhà nước, mà cụ thể là 20 triệu VND cho vị trí của anh ấy. Với mức lương như vậy thuê một CEO người Việt có trình độ còn khó chứ đừng nói gì thuê người nước ngoài. Bên cạnh cắt giảm lương của lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nước, Bộ Tài chính còn yêu cầu các doanh nghiệp này phải nộp hết lợi nhuận trong 2 năm 2013-2014 về cho bộ. Mà không chỉ lợi nhuận, thậm chí một số quĩ dự trữ rủi ro được doanh nghiệp trích từ lợi nhuận của các năm trước đó cũng có khả năng bị Bộ Tài chính "tịch thu". Không ai nói ra nhưng chiến dịch "tận thu" này chắc hẳn phải có liên hệ mật thiết với việc bộ đã hoàn thành kế hoạch thu ngân sách năm 2013 dù cuối Q3 vừa rồi đã có rất nhiều thông tin bất lợi.

Hiển nhiên khi phải giao nộp hết lợi nhuận về cho ngân sách, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước trong năm 2014 sẽ gặp nhiều khó khăn. Cụ thể họ sẽ phải lập kế hoạch và dự án đầu tư xin Bộ Tài chính cấp vốn, nghĩa là quay ngược cơ chế đầu tư về thời bao cấp gần 30 năm trước. Một doanh nghiệp mà nhất cử nhất động đều phải xin phép và đợi Bộ Tài chính cấp vốn thì không thể làm ăn hiệu quả, những doanh nghiệp nhà nước bị trói trong vòng kim cô như vậy sẽ càng là gánh nặng cho nền kinh tế. Bên cạnh đó một khi nhà nước đã consolidate balance sheet của các SOE vào balance sheet của mình như vậy, nợ của hệ thống này sẽ nghiễm nhiên trở thành nợ công. Vậy tỷ lệ public debt/GDP sẽ vượt xa "ngưỡng an toàn" 60%, các tổ chức quốc tế, các chủ nợ nước ngoài sẽ nghĩ gì?


8.
Chưa cần phải đợi đến khi cơ chế xin cho đầu tư cổ lỗ đó đi vào hiện thực, hệ thống SOE mà điển hình là nhiều tập đoàn kinh tế nhà nước đã lâm vào hoàn cảnh khó khăn từ mấy năm nay. Năm 2013 đã đánh dấu chấm hết cho tập đoàn Vinashin. Sau một loạt nỗ lực tái cấu trúc của chính phủ, tập đoàn này đã phải phân tán rất nhiều tài sản xấu và nợ cho các tập đoàn khác để rồi chính mình bị xoá tên. Những tập đoàn nhà nước và các công ty khác, những ngân hàng và cả công ty chứng khoán phải chia nhau ra gánh bớt nợ cho Vinashin, nói cách khác là chia sẽ lỗ cho tập đoàn này. Tôi nghe hai doanh nghiệp thuộc hàng "số má" của VN than rằng vài ngàn tỷ ôm cho Vinashin đành phải quên đi. Nhưng dẫu sao họ vẫn thuộc hàng cứng cựa nên còn chịu đựng được, các doanh nghiệp yếu hơn có thể sẽ sụp như trường hợp Vinalines hay một vài ngân hàng chịu cảnh bị thôn tín. Phân chia lỗ của Vinashin cho các doanh nghiệp gánh bớt tương đương với một dạng thuế ngầm đánh lên giới doanh nghiệp. Hậu quả của nó tương đương như việc bóp nghẹt chính sách tài khoá khi nền kinh tế đang yếu.

Aggregate demand suy giảm trong năm này là nguyên nhân chủ yếu kéo lạm phát xuống đồng thời depress credit demand. Mặc dù nợ xấu trong hệ thống ngân hàng rất đáng ngại và là điều phải giải quyết, tôi không tin đó là trở ngại chính cho tăng trưởng tín dụng trong năm 2013. Làn sóng doanh nghiệp phá sản/biến mất và bất động sản tiếp tục đóng băng là lý do làm credit demand giảm, bởi vậy ngân hàng thừa tiền nhưng rất khó cho vay. Giải pháp thông thường theo textbook trong trường hợp này là kích cầu và giảm lãi suất, tuy nhiên balance sheet của cả government và private sector đều tệ, còn NHNN vẫn chưa thoát được ám ảnh của lạm phát cao trong mấy năm trước. Bởi vậy VN chỉ còn trông chờ vào quá trình creative destruction tự nhiên của một nền kinh tế thị trường. Năm 2013 diễn ra đúng như vậy, chính phủ và NHNN đã gần như khoanh tay ngồi nhìn, một vài chính sách khuấy động báo chí một thời gian như đấu thầu vàng, VAMC, 30K tỷ "cứu" bất động sản trên thực tế có ảnh hưởng khá nhỏ vào nền kinh tế.

Vậy nhưng có vẻ nửa sau của 2013 kinh tế VN xuất hiện một vài dấu hiệu khả quan. Chỉ số PMI của HSBC/Markit đã được cải thiện rõ rệt. Credit growth của một số ngân hàng nhúc nhích đi lên, đầu tư nước ngoài tăng trưởng khá, thị trường bất động sản tuy chưa hết đóng băng nhưng đã bắt đầu có giao dịch. Một người bạn của tôi cho rằng 2-3 tháng cuối năm 2013 giá căn hộ của một số dự án cao cấp bắt đầu quay đầu đi lên, mọi người bắt đầu tính đến chuyện mua nhà thay vì ngồi chờ thêm một thời gian nữa đợi giá xuống thêm. Bản thân giới chủ đầu tư cũng lạc quan hơn và "chảnh" hơn khi từ chối sang lại dự án với giá rẻ cho các nhà đầu tư nước ngoài. Câu hỏi của họ cho các policy maker là có chính sách nhà đất gì mới không chứ không còn kêu gào giảm lãi suất hay bơm vốn như trước nữa. Điều này chứng tỏ cash flow của họ không còn quá khó khăn và balance sheet đã đươc cải thiện.

Không chỉ với các doanh nghiệp bất động sản lớn, một số doanh nghiệp vừa và nhỏ mà tôi có dịp tiếp xúc cho biết họ đã giảm số nợ ngân hàng xuống rất nhiều, thậm chí có doanh nghiệp đã trở thành debt free. Đây là thành quả của một giai đoạn deleveraging gian khổ mà họ đã trải qua, tất nhiên ai không thành công đã phải ngậm ngùi phá sản. Trả lời cho câu hỏi của tôi: "Anh/chị đánh giá tình hình kinh doanh năm 2013 tốt hơn hay kém hơn 2012, năm 2014 liệu có khả quan hơn không?", đa số đánh giá tình hình kinh doanh năm 2013 đã chạm đáy. Tất nhiên không ai tỏ vẻ quá lạc quan cho năm 2014 nhưng chí ít họ cho rằng năm nay sẽ không tệ hơn năm ngoái. Mẫu khảo sát của tôi khá nhỏ (<10) và phần lớn được trao đổi sau khi cả người hỏi lẫn người trả lời đã cụng vài ly nên có thể không chính xác, nhưng nhìn chung phù hợp với kết quả khảo sát PMI tôi đề cập bên trên.


9.
Dấu hiệu là như vậy nhưng liệu đâu là nguyên nhân để có thể hi vọng vào năm 2014? Loại trừ thiên tai và những biến động chính trị xã hội mà không ai đoán được, xung hướng FDI của năm 2014 vẫn tiếp tục tốt. Nền TQ càng ngày càng có dấu hiệu sẽ có correction về tương quan tiêu dùng/đầu tư, dẫn đến một làn sóng các nhà đầu tư nước ngoài và cả các nhà đầu tư TQ sẽ ra đi tìm nơi có nhân công rẻ hơn. Chiến lược China+1 để giảm bớt rủi ro sẽ có lợi cho VN và các nước nghèo khác ở châu Á, việc Samsung đã và đang mở rộng nhà xưởng ở VN là một minh chứng. Dòng vốn FPI thông qua các quĩ đầu tư có thể sẽ ấm lên dù hai đầu tầu VinaCap và DC chưa có rục rịch gì. Một vài nguồn tin khả tín của giới quĩ đầu tư cho biết họ đã và đang raise fund từ bên ngoài, vào khoảng vài chục triệu USD một lần. Mặc dù dòng vốn này rất kém ổn định, việc nó có dấu hiệu quay trở lại sau một loạt những vụ thoái vốn đình đám trong năm vừa rồi cho thấy vẫn còn những nhà đầu tư nước ngoài muốn đặt cược vào kinh tế VN.

Nguyên nhân thứ hai là sự phục hồi của kinh tế thế giới. Hầu hết giới kinh tế tài chính quốc tế, kể cả IMF, đều cho rằng năm 2014 kinh tế thế giới (trừ TQ) sẽ tăng trưởng tốt hơn nhiều so với năm 2013. Châu Âu đã thoát ra được bóng ma khủng hoảng nợ công nên chí ít các nước PIGS sẽ không rơi tự do nữa. Dù Đức có dấu hiệu chựng lại trong tháng 12/2013 và tình hình kinh tế Pháp đang xấu đi, nhìn chung châu Âu sẽ có tăng trưởng trong năm nay. Trong khi đó cả Mỹ lần Nhật đều khá lạc quan về những tiến triển kinh tế gần đây. Bất chấp những trò "mèo chuột" trong chính trường Mỹ (e.g. government shutdown, debt ceiling) thị trường đã rất lạc quan phản ánh qua giá chứng khoán và cả giá bất động sản. Còn với Nhật Abenomics đã chứng minh được đây là hướng đi đúng cho đất nước này dù con đường phục hồi còn khá dài. VN với kim ngạch xuất khẩu gần 90% GDP sẽ được lợi trực tiếp khi những thị trường nói trên phục hồi. Nếu TPP được thông qua trong năm nay, đây sẽ là một cú hích quan trọng cho nền kinh tế VN không kém gì lần gia nhập WTO. Điều khác biệt căn bản là lần này VN đã có kinh nghiệm đối phó với sự tăng trưởng đột biến của dòng vốn và dòng chảy thương mại.


10.
Trong 3-4 năm gần đây khi nói chuyện với các nhà đầu tư và doanh nhân nước ngoài, tôi luôn "quảng cáo" rằng nền kinh tế VN có rất nhiều tiềm năng dù triển vọng trong ngắn hạn không sáng sủa cho lắm. Nếu ai có ý định đầu tư vào VN nên đặt mục tiêu dài hạn chứ trong vài năm có thể có nhiều rủi ro vĩ mô. Sau lần về thăm nhà vừa rồi, có lẽ nhận định trên không còn đúng nữa. Ngắn hạn như đã nói bên trên tôi bớt bi quan khá nhiều. Một hai năm lại đây tôi cho rằng tỷ giá là rủi ro rất lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài vì NHNN có thể (và nên) phá giá VND thật mạnh để khôi phục sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên rủi ro đó đã không xảy ra và trong năm 2014 chính NHNN đã khẳng định không để VND mất giá quá 2%, nhỏ hơn nhiều so với mức chênh lệch lạm phát. Ở đây tôi không bàn về tính đúng sai của chính sách giữ tỷ giá này (mà tôi vẫn cho là sai), đối với các nhà đầu tư nước ngoài đây là một dạng subsidy ngầm của NHNN vì cơ quan này đã "biếu không" cho họ một hợp đồng bảo hiểm rủi ro tỷ giá mà thông thường họ phải tốn khoảng 5-6% cho số tiền họ định đầu tư. Trong ngắn hạn, khi rủi ro vĩ mô đã giảm như nói bên trên, đây là một deal "hời" cho giới đầu tư/đầu cơ nước ngoài nếu "lời hứa" của NHNN tin được.

Nhưng về dài hạn tôi bi quan hơn trước rất nhiều. Có không ít những doanh nhân trong nước mà tôi gặp đã hỏi về thủ tục định cư sang Úc và những nước phát triển khác. Một số nói thẳng họ sẽ ra đi, cách này hay cách khác, nước này hay nước khác. Chí ít hầu hết những người tôi gặp đều nói họ muốn cho con cái ra nước ngoài học và ở lại lập nghiệp bên ngoài. Lý do là họ không còn hi vọng vào tương lai của VN cho dù họ đang kiếm tiền rất tốt ở đây. Dù mẫu khảo sát của tôi rất nhỏ nhưng nếu lấy con số 80% giới nhà giàu TQ muốn ra nước ngoài sống làm ước lượng cho VN, có lý do để lo ngại rằng một làn sóng người giàu và middle class của VN sẽ âm thầm ra đi. Báo chí và nhiều quan chức đã từng cảnh báo về nạn chảy máu chất xám, lần này VN sẽ không chỉ mất chất xám mà cả vốn liếng và kinh nghiệm kinh doanh, quản lý của những người đã góp phần không nhỏ cho sự phát triển kinh tế trong hơn 20 năm qua. Bất luận giới kinh tế và đầu tư quốc tế nhìn nhận VN thế nào, một khi chính những người trong cuộc chán nản bỏ đi, tương lai lâu dài của nền kinh tế không thể xán lạn được.

Viết đến đây chợt nhớ một câu nói của Đặng Tiểu Bình mà một người bạn đã nhắc lại chưa lâu: "Ai ra nước ngoài (học tập) rồi trở về là người yêu nước, ai ở lại là người vì nước". Tôi nghĩ những người chọn con đường ra đi không phải họ không yêu nước, vì nước, mà vì họ không còn thấy tương lai của đất nước với thể chế kinh tế và chính trị hiện tại dù tiềm năng vẫn còn. Không có những thay đổi mạnh mẽ về thể chế, niềm tin sẽ không quay trở lại.


01/2014


Friday, December 20, 2013

Offline


Bạn đọc blog thân mến, cuối tháng này tôi sẽ về VN thăm nhà và dự định tổ chức một cuộc gặp mặt offline. Khác với lần trước, lần này sẽ hoàn toàn informal, tôi không có thuyết trình hay phát biểu gì cả mà sẽ chủ yếu gặp mặt làm quen và nghe các bạn nói. Kế hoạch tạm thời là Chủ nhật 29/12 trong khoảng từ 2PM đến 5PM tại quán cafe Đông Hồ (199 Cao Thắng, Phường 12, Quận 10, TPHCM - gần Hồ Kỳ Hòa), nếu có gì thay đổi tôi sẽ thông báo lại trên blog. Mời tất cả các bạn mới/cũ, quen/chưa quen đến gặp mặt, hi vọng sẽ có một buổi nói chuyện thú vị với các bạn.

PS. Nếu bạn có thể confirm hãy để lại comment ở đây hay email cho tôi để tôi có thể áng chừng số người tham dự, nếu không confirm được cũng không sao.


Update: Cám ơn các bạn đã đến tham gia buổi offline, tôi rất impressed về sự nhiệt tình của các bạn. Có thể nói cuộc gặp mặt đã "không thành công" như tôi mong đợi vì tôi nói quá nhiều chứ không phải các bạn như dự định ban đầu, nhưng quả thật nhiều câu hỏi rất hóc búa mà tôi nhìn thấy trong đó tinh thần "Stay hungry, Stay foolish" của Steve Jobs. Không phải "kể lể" gì nhưng nói thật maintain một blog không có tính giải trí như kinhtetaichinh đòi hỏi khá nhiều mồ hôi. Nhìn gương mặt và tinh thần học hỏi của các bạn trong buổi offline hôm qua giúp tôi thêm nhiệt huyết trên con đường của một blogger trong những ngày tháng tới. Cám ơn và hẹn gặp lại.

PS. Đợt này vì thời gian nghỉ phép khá ngắn và có nhiều family commitment nên tôi không thu xếp ra HN được. Tôi không dám hứa nhưng trong tương lai tôi rất mong có một buổi offline tương tự với các bạn ở HN.



Wednesday, December 18, 2013

Official statistics


Mấy tuần trước nhà báo Nguyễn Vạn Phú viết một số bài báo và blog về sự thay đổi số liệu GDP của VN năm 2012. Vấn đề trở nên nóng hơn khi một đại biểu HĐND TPHCM chất vấn về sự thay đổi đột ngột của chỉ số GDP đầu người của địa phương này. Bởi vậy không có gì ngạc nhiên khi ông Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Bích Lâm đăng đàn trần tình về việc TCTK bị phê phán về chất lượng số liệu. Với tựa đề bài viết "Cần trách nhiệm hơn khi đánh giá số liệu thống kê" có lẽ không chỉ trần tình mà ông Tổng cục trưởng còn trách cứ những người phê phán đã không có trách nhiệm.

Công bằng mà nói số liệu thống kê kinh tế bị phê phán không chỉ ở VN. Ngay cả ở Mỹ, nơi có hệ thống thống kê tốt nhất thế giới, cũng không tránh khỏi những phê phán/nghi kỵ của người dân và giới nghiên cứu về chất lượng các chỉ tiêu kinh tế. Nổi tiếng nhất trong số những người nghi ngờ số liệu thống kê của Mỹ phải kể đến John Williams, hàng chục năm qua đã không ngừng công kích số liệu CPI và unemployment rate của nước này. Williams còn lập ra một website tính lại những chỉ số kinh tế phổ thông để đối trọng lại các con số chính thức do các cơ quan thống kê công bố. Một ví dụ đình đám khác là vụ George Welch, cựu CEO của GM, chỉ trích số liệu việc làm của Mỹ trong mùa tranh cử tổng thống năm ngoái. Ông này ám chỉ chính phủ Obama đã nâng số liệu việc làm lên để tranh thủ lấy phiếu cử tri. Giới thống kê và học giả Mỹ đã đăng đàn phản bác những nghi ngờ và cáo buộc của cả Williams lẫn Welch, tương tự như bài của ông Nguyễn Bích Lâm.

Nói vậy để thấy việc "phản biện" và "chống phản biện" số liệu thống kê là khá bình thường. Nhưng hỏi 10 nhà nghiên cứu kinh tế chắc phải có 9 người tỏ ý nghi ngờ về độ chính xác của số liệu thống kê của VN. Tôi nằm trong số 9 người đó và đã không dưới một lần nêu ra sự nghi ngờ của mình trên blog này, thậm chí đã từng viết một entry riêng về chất lượng số liệu thống kê của TCTK. Bởi vậy, là đối tượng mà ông Nguyễn Bích Lâm phê phán (thiếu trách nhiệm), tôi không thể không có vài dòng phản-phản biện lại ông Tổng cục trưởng. Nhân tiện tôi sẽ giới thiệu thêm với các bạn một số qui tắc/thông lệ liên quan đến việc thu thập và phổ biến số liệu thống kê kinh tế của một số nước mà tôi được biết. Xin lưu ý trước, những gì tôi viết dưới đây là dưới góc độ của người sử dụng thống kê kinh tế chứ không phải người thu thập và xử lý số liệu. Giá mà bác Vũ Quang Việt hoặc Bùi Trinh viết cho một bài về khía cạnh thu thập số liệu thì tuyệt.

Trước hết cần phải xác định rõ thế nào là chất lượng của số liệu thống kê (kinh tế), ông Nguyễn Bích Lâm chỉ nói về ba yếu tố ảnh hưởng lên chất lượng số liệu (sẽ bàn thêm bên dưới) chứ không đưa ra định nghĩa về chất lượng. Có bạn sẽ nghĩ ngay chất lượng ở đây là độ chính xác chứ có gì mà phải bàn. Tất nhiên chính xác là tiêu chuẩn  quan trọng nhất đối với số liệu thống kê. Nhưng bên cạnh đó một hệ thống thống kê "có chất lượng" còn phải bảo đảm các yếu tố coverage, timely, consistency, và transparency.

Coverage (bao quát?): một hệ thống thống kê có chất lượng phải đảm bảo cung cấp đủ những chỉ số quan trọng của một nền kinh tế. Tất nhiên "đủ" là một khái niệm khôn cùng và subjective, vd nếu tôi quan tâm đến lĩnh vực tài chính tôi sẽ muốn có hàng nghìn chỉ tiêu liên quan đến hệ thống ngân hàng, thị trường chứng khoán..., ngược lại nếu bạn nghiên cứu về lao động thì bạn muốn có nhiều số liệu về việc làm, lương bổng... Một vấn đề nữa là chi phí, những nước giàu có ngân sách lớn cho cơ quan thống kê quốc gia hiển nhiên sẽ có coverage tốt hơn các nước nghèo, bởi vậy "đủ" còn có nghĩa sử dụng budget cho thống kê một cách hợp lý. Cách đây 5-6 năm Niên giám thống kê của VN còn thu thập số liệu số quạt máy, phích nước được sản xuất hàng năm, số máy công nông được lắp ráp, thậm chí số huy chương Seagames, số lễ hội/festival tổ chức ở các tỉnh thành, trong khi không có số liệu về thất nghiệp (không biết bây giờ đã thay đổi chưa). Coverage như vậy là không "đủ" và số liệu thống kê của VN không thể nói là có chất lượng về mặt này.

Có thể thấy mong muốn coverage "đủ" là khó, nhưng chí ít phải có một mức tối thiểu nào đó. Ở hầu hết các nước, số liệu thống kê kinh tế phải đảm bảo coverage cho hệ thống tài khoản quốc gia (theo chuẩn SNA của LHQ), thống kê tài chính (theo chuẩn của IMF), thống kê về giá cả (CPI/PPI, house price...), thống kê việc làm, thống kê xuất nhập khẩu, và thống kê ngân sách/chi tiêu chính phủ. Ngoại trừ thống kê việc làm, coverage của VN đã đủ cho các lĩnh vực còn lại mặc dù đi vào chi tiết có thể chưa hoàn chỉnh. Đon cử là thống kê tài chính theo yêu cầu của IMF (cho hệ thống cảnh báo rủi ro sớm của họ) VN còn thiếu khá nhiều và tần suất cung cấp số liệu cũng không đạt yêu cầu (nói cho chính xác thì đây là trách nhiệm của NHNN chứ không phải TCTK, nhưng tôi tạm gộp các cơ quan có trách nhiệm thu thập số liệu kinh tế vào làm một).

Một điều khá thú vị liên quan đến coverage là hầu hết các nước đều đã "xã hội hóa" một phần việc thu thập số liệu (kinh tế) để mở rộng coverage mà không phải tốn thêm ngân sách. Thông tin kinh tế luôn là một mặt hàng bán chạy nên các công ty tư nhân có động cơ tiến hành thu thập và bán số liệu này. Trong một số trường hợp số liệu thống kê tư nhân còn "cạnh tranh" với số liệu chính thức của nhà nước, vd ShadowStats của John Williams tôi link bên trên hoặc Billion Price Project của MIT (bây giờ đã bán cho State Street). Vấn đề là các cơ quan thống kê quốc gia (và cả cơ quan an ninh) nên "thoáng" hơn với các tổ chức tư nhân tham gia vào hoạt động thu thập số liệu. Nên tạo điều kiện phát triển thị trường mua bán thông tin để giúp tăng coverage cho nền kinh tế.


Timely (thuật ngữ này có thể dịch là kịp thời nhưng nó còn bao hàm một số ý rộng hơn): giới tài chính có một thuật ngữ là real-time data, nghĩa là số liệu có ngay tức thì khi hoạt động kinh tế tương đương kết thúc hoặc thậm chí đang diễn ra, vd chỉ số chứng khoán được cập nhật ngay lập tức trên màn hình cá nhân song song với trên sàn giao dịch. Tất nhiên số liệu kinh tế vĩ mô không thể và không cần phải cập nhật nhanh như vậy. Không thể vì rất nhiều số liệu thống kê phải khảo sát và thu thập trên toàn quốc, rồi phải xử lý thô trước khi công bố. Không cần vì như đã đề cập đến trước đây, nền kinh tế là một cỗ máy khá nặng nề có quán tính lớn nên hai thời khắc gần nhau quá không đem lại nhiều thông tin có ích. Vấn đề timely của số liệu thống kê cũng phụ thuộc vào budget/chi phí thu thập số liệu và độ chính xác, càng nhanh càng tốn kém và càng ít chính xác.

Thông thường số liệu SNA được thu thập và công bố theo quí, các thể loại số liệu khác theo tháng. Số liệu thống kê của VN có một điểm rất khác biệt so với các nước. Số liệu quí (vd GDP) thường được công bố vài ngày trước khi quí kết thúc, số liệu tháng (vd CPI) cũng được công bố trước khi tháng kết thúc. Điều này tưởng chừng cho thấy tính timely của số liệu VN cực cao, nhưng thực tế nó chứng tỏ cơ quan thống kê của VN đã không sử dụng hết thông tin của chu kỳ thống kê cho mỗi chuỗi số liệu. Tất nhiên sau đó cơ quan thống kê sẽ tiếp tục hiệu chính các chỉ số thống kê khi có thêm thông tin như thông lệ quốc tế. Nhưng điều khác biệt giữa VN và thế giới là thời điểm của các hiệu chỉnh đó không được công bố rộng rãi và các chuỗi số liệu cũ không được lưu giữ.

Lấy ví dụ số liệu GDP của các nước thường được công bố ít nhất 3 lần: preliminary release, first revision, và second revision. Preliminary release thường được công bố 1-2 tháng sau ngày cuối cùng của quí, first revision thường trước khi quí tiếp theo kết thúc, second revision sau đó 1-2 tháng. Hầu hết những ngày công bố số liệu đều được báo trước rộng rãi và số liệu chính sửa ra sao sẽ được nêu ra cụ thể. Thường thì cơ quan thống kê không có nghĩa vụ (theo luật) phải giải thích tại sao số liệu lại thay đổi như vậy nhưng trên thực tế họ vẫn nêu ra/gợi ý những lý do khách quan (vd government shutdown, thiên tai, đình công...) để báo giới và những người sử dụng thông tin có cơ sở phân tích. Một vấn đề quan trọng nữa là tất cả số liệu của các lần công bố/sửa đổi phải được lưu trữ để các nhà nghiên cứu có thể phân tích/đánh giá thực trạng kinh tế chính xác. Giới economists vẫn thường tranh luận với nhau nên sử dụng số liệu preliminary release hay số liệu final revision.

Ngoài vấn đề tần suất và thời điểm công bố/sửa đổi số liệu, tính chất timely còn thể hiện qua cách thức công bố số liệu ra công chúng. Rất nhiều số liệu thống kê kinh tế có ảnh hưởng lớn lên thị trường tài chính nên các cơ quan thống kê thường có qui định về cách thức công bố rất chặt chẽ để đảm bảo tính công bằng. Trước đây một số nước "nhốt" phóng viên của các báo và hãng tin vào một phòng, công bố số liệu cho họ để học có thời gian nghiên cứu và viết tin rồi đúng giờ mở cửa phòng cho họ ra chuyển tin về tòa soạn. Hiện nay công nghệ thông tin đã phát triển hơn nên số liệu thường được công bố vào một thời điểm định trước trên website hoặc một hệ thống điện tử để bất kỳ ai cũng có thể truy cập và biết thông tin như nhau. Các hệ hãng tin tài chính lớn như Bloomberg/Reuters thường sẽ relay số liệu từ các cơ quan thống kê ngay lập tức cho khách hàng dưới dạng flash news, sau đó họ mới viết bài phân tích sau. Đảm bảo thông tin được cung cấp công bằng như vậy cũng là một khía cạnh chất lượng mà cơ quan thống kê phải tính đến.

Một điểm nhỏ nữa liên quan đến vấn đề timely là ngoài việc cung cấp số liệu cho người sử dụng trong nước, các cơ quan thống kê còn cung cấp thường ký cho các tổ chức quốc tế như WB, IMF, BIS... Một điều trái khoáy là trong khi TCTK công bố số liệu rất nhanh vào mỗi cuối quí hoặc tháng, VN lại rất chậm chạp khi cập nhật số liệu ở các tổ chức quốc tế. Điều này ít ảnh hưởng đến các nhà hoạch định chính sách trong nước nhưng gây khó khăn cho những nhà nghiên cứu và đầu tư nước ngoài cần. Về mặt này chất lượng của thống kê VN không thể nói là timely.


Consistency (nhất quán?): một chuỗi số liệu có tính chất consistency khi nó phản ánh một khía cạnh/hoạt động kinh tế ổn định theo thời gian và không gian. Ổn định theo thời gian có nghĩa là giữa 2 thời điểm khác nhau bản chất của chuỗi số liệu không thay đổi. Điều này tưởng đơn giản nhưng thực ra rất khó đảm bảo, ngay cả ở những nước phát triển. Có một số nguyên nhân làm bản chất các chuỗi số liệu thay đổi theo thời gian. Thứ nhất là khía cạnh/hoạt động kinh tế mà nó phản ánh thay đổi nên buộc người làm công tác thống kê phải thay đổi cách thu thập dữ liệu và tính toán thống kê. Lấy ví dụ GDP của Mỹ đã có một thay đổi lớn trong năm 2013 vì cách tính thay đổi để phản ánh giá trị gia tăng của các hoạt động liên quan đến intangible assets. Các đây 2 năm GDP của TQ cũng có một revision lớn vì họ đổi cách tính để đưa một số hoạt động kinh tế trước đó bị cho là ngoài luồng vào GDP chính thức. Hiển nhiên chuỗi số GDP trước và sau những thay đổi đó không còn consistent nữa và các nhà nghiên cứu phải chú ý đến điểm này. Ở đây việc lưu trữ song song chuỗi dữ liệu theo cả hai cách tính trong một thời gian đủ dài sẽ giúp những người sử dụng số liệu tránh sai xót khi có những thay đổi lớn như vậy.

Lý do thứ hai là bản thân cơ quan thống kê thay đổi cách tính vì có những phương pháp thống kê mới ra đời. Ví dụ chuỗi số NFP của Mỹ khoảng hơn chục năm trước được thay đổi cách tính áp dụng một mô hình về số lượng công ty mới thành lập và phá sản (birth-death model) để hiệu chỉnh số liệu khảo sát thô. Một ví dụ khác là chuỗi số CPI thô được chỉnh lại theo mô hình imputable quality improvement (vd một cái máy tính có tốc độ xử lý tăng 20% thì nếu giá tăng lên 20% coi như chỉ số giá của nó không đổi). Những thay đổi về phương pháp tính như vậy làm các chuỗi số liệu bị mất tính consistency, nhiều trường hợp gây ra tranh cãi và nghi ngờ trong dư luận. Trong trường hợp này tính chất transparency (tôi sẽ nói thêm bên dưới) vô cùng quan trọng.

Lý do thứ ba là mẫu khảo sát thay đổi. Đây cũng có thể coi là sự thay đổi của phương pháp thống kê nhưng trong một số trường hợp do mẫu khảo sát tăng lên hay giảm xuống vì thay đổi ngân sách thống kê. Cách đây khoảng 2 năm Úc giảm bớt số lượng khảo sát việc làm vì budget bị cắt nên cho dù phương pháp lấy mẫu và cách tính không đổi chuỗi số liệu mới sẽ không consistent với chuỗi số trước đây, chí ít về mặt sai số và volatility.

Ổn định về không gian nghĩa là chuối số liệu đại diện cho một khía cạnh/hoạt động kinh tế ở các địa phương khác nhau, các quốc gia khác nhau về bản chất phải giống nhau. Đây là lý do các tổ chức quốc tế nhưu UN, WB, IMF... đưa ra các bộ tiêu chuẩn thống kê như SNA, BoP để thống kê của các nước có thể so sánh được với nhau. Trong phạm vi từng quốc gia, thống kê địa phương dễ được thu thập và tính toán theo cùng một chuẩn, nhưng chất lượng chọn mẫu, thu thập, xử lý có thể vẫn khác nhau. Ví dụ GDP ở khu vực nông thôn có thể sẽ bị bỏ xót nhiều hoạt động phi chính thức hơn GDP của thành phố.

Tóm lại số liệu thống kê "có chất lượng" theo khía cạnh consistency sẽ phải tuân thủ chặt chẽ các tiêu chuẩn quốc tế, phương pháp thu thập và xử lý ổn định, mẫu khảo sát đủ lớn để sai số không vượt quá ngưỡng cho phép. Những điều này đòi hỏi cơ quan thống kê phải có budget và resource đủ mạnh, là điều chưa thể mơ ước ở VN.


Transparency (minh bạch): Như đã phân tích bên trên, việc cơ quan thống kê minh bạch phương pháp và qui trình khảo sát, thu thập và xử lý số liệu rất cần thiết cho người sử dụng cuối cùng. Đặc biệt khi một chuỗi số liệu nào đó có thay đổi lớn việc giải thích cụ thể những thay đổi đó sẽ giúp tránh những nhầm lẫn đáng tiếc như vụ nhiều nhà báo cho rằng GDP bình quân đầu người VN tính theo USD tăng 23% trong năm vừa qua. Khi số liệu được điều chỉnh (sau các lần revision), các chuỗi số cũ nên được lưu giữ, thuật ngữ chuyên môn gọi là vintage series, để tiện so sánh, đối chiếu. Với những chỉnh sửa do thay đổi phương pháp tính, vd các đây vài năm TCTK thay cách tính tốc độ lạm phát năm bằng trung bình lạm phát tháng thay vì year-on-year CPI rate, cơ quan thống kê nên tính lại chuỗi số liệu trong quá khứ bằng phương pháp mới để có thể so sánh với cách tính cũ.

Transparency còn thể hiện ở số lượng và mức độ chi tiết số liệu thống kê được công bố. Lấy ví dụ chuỗi CPI có cấu thành bởi hàng trăm loại hàng hóa khác nhau, chỉ công bố chỉ số tổng hợp hoặc một vài nhóm hàng hóa lớn sẽ gây khó khăn, thậm chí nghi ngờ với người sử dụng cuối cùng. Không rõ hiện tại TCTK đã công khai trọng số của rổ CPI chưa (trước đây vài năm đây là số liệu không được phổ biến), hay đến bao giờ NHNN mới chính thức công khai dự trữ ngoại hối quốc gia chứ không úp úp mở mở như hiện tại. Nếu vì lo ngại công bố nhiều số liệu "nhạy cảm" có thể có ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế, vd có người sợ bị giới hedge fund quốc tế tấn công tiền tệ, thì có thể delay việc công bố số liệu. Thà rằng chất lượng theo timely bị kém đi nhưng gia tăng transparency thì vẫn hơn.

Việc rất nhiều chuỗi số liệu nay đã được công bố công khai (và miễn phí) trên website của TCTK, NHNN và nhiều bộ khác, là một bước tiến đáng khen về mặt transparency. Tuy nhiên infrastructure của những website này còn có thể được cải thiện tốt hơn, một ví dụ mà các web developer của các cơ quan thống kê VN nên học hỏi là website cung cấp số liệu FRED của St Louis Fed. Với chi phí hardware ngày càng giảm, tốc độ đường truyền ngày càng tăng, các cơ quan thống kê VN nên nâng số lượng database cung cấp cho người sử dụng lên, có thể thu một mức phí dịch vụ nhưng nên công khai điều này (chứ không phải như trước đây bạn phải quen biết ai đó để mua số liệu từ TCTK hay các cơ quan khác) mặc dù trong thâm tâm tôi muốn mọi dữ liệu đều free :-).

Một thiếu sót nữa trên website của nhiều cơ quan (thống kê) VN là thiếu mục education/Q&A cho người sử dụng cuối cùng. Tối thiểu những số liệu được cung cấp cần phải có định nghĩa đầy đủ và rõ ràng, những chuỗi số liệu có đặc thù (của VN) càng cần giải thích rõ để tránh ngộ nhận. Lấy ví dụ GDP bình quân đầu người theo USD cần phải nói rõ đó là nominal GDP theo giá hiện hành bằng VND chia cho số dân rồi qui đổi ra USD theo tỷ giá trung bình trong năm. Trong thời đại hyperlink hiện nay số liệu trên website hay thậm chí trong pdf hoặc doc files cũng có thể link thẳng đến định nghĩa hoặc giải thích. Tuyệt vời hơn nữa nếu những website này có thêm một diễn đàn hỏi đáp, giải thích các thắc mắc về số liệu thống kê cho người sử dụng.

Gia tăng transparency chắc chắn sẽ tốn thời gian, công sức, tiền bạc và nhất là cần sự thay đổi mindset của những người làm công tác thống kê (và có lẽ cả cơ quan an ninh). Nhưng đây là một điều cần thiết và có nhiều lợi ích cho phát triển kinh tế, nhất là khi VN mong muốn có một nên kinh tế tri thức.


Accuracy (chính xác): Như đã nói bên trên, chính xác là yêu cầu quan trọng nhất của số liệu thống kê nên không có gì khó hiểu khi nhiều người đánh đồng "chất lượng" với "chính xác" và bỏ qua những tính chất khác tôi liệt kê bên trên. Nhưng ngay cả hiểu đơn giản như vậy cũng không đơn giản, nhất là với những số liệu thống kê kinh tế vĩ mô có tính tổng hợp cao. Nếu thống kê chỉ đơn giản đếm số phích nước, quạt máy được sản xuất thì xác đingj tính chính xác khá rõ ràng. Khi một hoạt động/khía cạnh kinh tế phức tạp hơn cần thống kê thì tính chính xác trước hết phụ thuộc vào khái niệm và định nghĩa của chỉ tiêu thống kê dự định đại diện cho hoạt động kinh tế đó.

Lấy ví dụ chúng ta muốn đo lường tốc độ tăng giá tiêu dùng trong nền kinh tế trong một năm, chúng ta có thể đưa ra một chỉ số bằng trung bình trọng số tốc độ tăng giá của một rổ hàng hoá đại diện mà người dân mua trong năm. Chắc bạn đã nhận ra đây là định nghĩa của chỉ số CPI và chắc bạn cũng thấy chỉ số này có một vài khiếm khuyết khi đại diện cho tốc độ tăng giá hàng tiêu dùng. Thứ nhất rổ hàng hoá chỉ là đại diện, mỗi cá nhân, mỗi gia đình có thói quen tiêu dùng khác nhau. Thứ hai vì trọng số của mỗi loại hàng hoá cố định nên cách tính như vậy loại trừ substitution effect, nghĩa là sự thay đổi hành vi tiêu dùng khi giá tương đối giữa 2 loại hàng hoá thay đổi (vd phổ biến trong textbook là người tiêu dùng chuyển sang uống trà khi giá cà phê tăng lên). Thứ ba cách tính trung bình trọng số (dựa vào mức chi tiêu cho từng loại hàng hoá) chưa chắc đã "đúng" theo nghĩa phản ánh được perception về lạm phát trong xã hội. Không chỉ ở VN, nhiều nơi trên thế giới người dân nghi ngờ độ chính xác của con số lạm phát mà cơ quan thống kê công bố vì họ chỉ "cảm nhận" lạm phát nhưng là một con số trung bình đơn giản mức độ tăng giá của một vài loại hàng hoá mà họ dễ nhận diện.

Ví dụ trên cũng cho thấy tính chính xác của một chỉ số thống kê phụ thuộc vào subjectivity của người sử dụng nó. Rõ ràng một bà nội trợ hàng ngày đối mặt với giá gạo, thịt sẽ có perception về lạm phát khác với một central banker và do vậy sẽ có khái niệm chính xác rất khác khi cùng nhìn vào một con số thống kê. Chắc các bạn biết nhiều nước công bố CPI và core CPI (chưa kể các thể loại CPI được hiệu chỉnh khác như trimmed mean, median CPI...), thực ra đó chỉ là cách làm tăng độ chính xác của số liệu thống kê cho các đối tượng sử dụng cuối cùng khác nhau. Như vậy để tăng độ chính xác, ở khía cạnh thoả mãn nhu cầu sử dụng cuối cùng của các đối tượng khác nhau, cơ quan thống kê nên đưa ra nhiều cách tính, cách hiệu chỉnh cho cùng một chuỗi số liệu thô (cần phân biệt điều này với coverage bên trên). Gia tăng transparency như đã nói bên trên cũng giúp tăng perception của người sử dụng về độ chính xác của số liệu.

Trong công tác thống kê việc chỉnh sửa số liệu là điều tối kỵ. Tuy nhiên có những lúc việc chỉnh sửa là cần thiết để gia tăng tính chính xác của kết quả thống kê. Nhu cầu chỉnh sửa số liệu thô có hai nguyên nhân. Thứ nhất để hiệu chỉnh các bias trong phương pháp thống kê/survey mà vì lý do ngân sách hạn hẹp hay yêu cầu timely mà số liệu thô không chính xác. Ví dụ việc hiệu chỉnh CPI vì có sự thay đổi chất lượng của hàng hóa trong rổ điều tra như đã trình bày bên trên. Thứ hai là để hiệu chỉnh bias do yếu tố mùa vụ khi số liệu thống kê được thu thập theo quí hay theo tháng. Trong cả hai trường hợp các nhà thống kê lập luận rằng chuỗi số liệu thô có consistent bias và người sử dụng ít kinh nghiệm có thể sẽ bị các bias đó làm nhầm lẫn. Bởi vậy cơ quan thống kê có trách nhiệm phải hiệu chỉnh lại số liệu trước khi công bố để loại bỏ bias. Trong trường hợp thứ hai đa số các nước công bố đồng thời số liệu thô và số liệu đã được hiệu chỉnh yếu tố mùa vụ.

Nếu yếu tố transparency được bảo đảm tối đa, trách nhiệm hiệu chỉnh bias thuộc về người sử dụng dữ liệu cuối cùng. Tuy nhiên trên thực tế điều này không tồn tại ngay cả ở những nước tiên tiến và cũng không thể trông đợi bất kỳ ai có đủ trình độ để hiểu và tự hiệu chỉnh cac bias đó. Bởi vậy tính chính xác của số liệu đã được hiệu chỉnh sẽ không chỉ phụ thuộc vào quá trình thu thập số liệu của cơ quan thống kê mà còn vào năng lực kỹ thuật xử lý của họ. Hiện tại số liệu thống kê của VN chưa được hiệu chỉnh mùa vụ và các loại bias khác nên có thể nói mức độ chính xác còn hạn chế. Tuy nhiên đây là điểm có thể dễ dàng cải thiện vì các kỹ thuật và phần mềm hiệu chỉnh mùa vụ cũng như các loại bias khác đã được các nước tiên tiên phát triển khá lâu và công bố rộng rãi, cơ quan thống kê VN có thể học hỏi hoặc thuê chuyên gia trợ giúp. Tất nhiên bất kỳ sự hiệu chỉnh nào cũng cần phải được công khai và giải thích chi tiết.

Một yếu tố khác ảnh hưởng đến tính chính xác của số liệu thống kê là khả năng kiểm tra chéo với các nguồn số liệu khác nhau. Lấy ví dụ số liệu xuất khẩu của VN có thể dễ dàng được kiểm tra khi so sánh với tổng số liệu nhập khẩu từ VN của tất cả các nước. Số liệu GDP của TQ thường xuyên bị giới phân tích quốc tế nghi ngờ và họ kiểm chứng lại bằng cách so sánh với sản lượng điện tiêu thụ cùng kỳ. Việc TQ có một nguồn số liệu về điện năng độc lập với số liệu GDP của cơ quan thống kê là một sức ép lên cơ quan này phải cải thiện chất lượng thống kê GDP. Có lẽ cùng quan điểm như vậy nên nhiều nước giao việc thống kê số liệu kinh tế xã hội cho nhiều cơ quan khác nhau ngoài cơ quan thống kê quốc gia. Việc "xã hội hóa" nhiều mảng thống kê kinh tế cũng giúp việc kiểm tra chéo dễ dàng hơn.

Điểm cuối cùng liên quan đến tính chính xác của số liệu thống kê là tính độc lập của cơ quan thống kê quốc gia. Một cơ quan độc lập bên ngoài chính phủ với ngân sách đầy đủ (do QH duyệt cấp hàng năm) và cơ sở pháp lý vững mạnh sẽ tránh được sức ép công bố số liệu "đẹp" của các chính trị gia đồng thời đủ sức chế tài các tổ chức và cá nhân khác trong quá trình thu thập dữ liệu.


(Còn tiếp)



Monday, December 16, 2013

Thank you


Cách đây mấy tháng tôi có viết một entry về Social Capital và Charity, giới thiệu một ý tưởng từ thiện rất hay mà tôi tình cờ đọc được trên Quora. Một nhóm bạn trẻ mà tôi không hề quen nhắn lại sẽ tìm cách triển khai ý tưởng này ở VN. Và hôm nay đọc bài "Đời phải đáng sống" trên Tuổi Trẻ biết rằng ý tưởng "cơm treo" đã được triển khai ở VN. Tôi không biết có phải nhóm bạn trẻ đã nhắn tin cho tôi đứng đằng sau hoạt động từ thiện này không, nhưng dù là ai cũng rất cám ơn những tổ chức và cá nhân đã vận hành nó. Mong rằng hoạt động từ thiện này sẽ tiếp tục phát triển và nhận được sự ủng hộ rộng rãi của xã hội nói chung và bạn đọc blog kinhtetaichinh nói riêng. Cá nhân tôi rất nóng lòng trông chờ ngày được tự tay mua những tấm phiếu "cơm treo" trên đường phố quê nhà.