Wednesday, August 12, 2009

Maturity mismatch


NHNN vừa yêu cầu các NHTM giảm tỷ lệ cho vay trung dài hạn trên tổng nguồn vốn ngắn hạn từ 40% xuống 30%. Việc giám sát và quản lý maturity mismatch (MM) này khá hiếm trên thế giới, đơn giản vì hấp thu rủi ro MM chính là chức năng của hệ thống ngân hàng thương mại. Giới hạn tỷ lệ MM tối đa như vậy sẽ làm giảm lợi nhuận của hệ thống ngân hàng và làm méo mó thị trường tín dụng. Lợi nhuận giảm là điều tất yếu vì các NHTM sẽ phải gia tăng huy động tiền gửi có maturity dài hơn, tất nhiên phải trả lãi suất cao hơn. Nếu vẫn không thể huy động đủ số tiền gửi trung/dài hạn, NHTM sẽ buộc phải cho vay ngắn hạn và rollover các khoản vay này cho doanh nghiệp khi nó đáo hạn. Tất nhiên lãi suất cho vay ngắn hạn sẽ thấp hơn cho vay dài hạn. Kiểu gì profit margin của các NHTM cũng giảm.

Với thị trường tín dụng, khi tỷ lệ MM bị buộc phải giảm các khoản cho vay ngắn hạn sẽ tăng lên. Điều này có hai hậu quả: (i) khuyến khích các khoản vay ngắn hạn liên quan đến các hoạt động đầu cơ ngắn hạn (chứng khoán, địa ốc), và (ii) khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các dự án ngắn hạn để tránh phải đi vay dài hạn. Những méo mó này chắc chắn không phải kết quả tối ưu cho nền kinh tế và sẽ không có lợi cho bất kỳ ai. Vậy tại sao NHNN lại muốn giảm tỷ lệ MM tối đa và nguyên nhân của chính sách này là gì?

Tôi đã một vài lần đề cập trên blog này rằng NHNN dường như không hoàn thành trách nhiệm LOLR (lender of last resort) của mình. Hơn thế nữa, NHNN có vẻ quá lạm dụng chức năng liquidity management để chống lạm phát. Maturity mismatch xét cho cùng là một rủi ro về liquidity. Nếu balance sheet của một NHTM lành mạnh thì ngân hàng trung ương luôn có thể thực hiện chức năng LOLR để giải quyết tất cả các vấn đề liquidity cho NHTM đó, bao gồm maturity mismatch. Trên thực tế, NHNN giống như nhiều central bank khác dùng required reserve ratio làm công cụ quản lý liquidity. Như vậy áp đặt thêm tỷ lệ MM tối đa là một secondary regulation, chưa chắc đã hiệu quả hơn required reserve nhưng chắc chắn tạo thêm gánh nặng cho các NHTM như đã nói ở trên.

Đã có thông tin cho rằng NHNN bắt đầu thắt chặt tăng trưởng tín dụng, nghĩa là thắt chặt chính sách tiền tệ. Gia tăng tỷ lệ MM tối đa có thể là một biện pháp theo hướng thắt chặt tiền tệ này (thay vì tăng required reserve ratio). Nếu kinh tế VN đang phục hồi tốt và kinh tế thế giới đã thực sự qua đáy, thắt chặt tiền tệ có thể là một biện pháp cần thiết để đề phòng lạm phát. Tuy nhiên nếu NHNN tin như vậy thì nên thuyết phục chính phủ chấm dứt các chính sách kích cầu trước đã, vì thực ra chính sách kích cầu của VN là monetary easing về bản chất. Thực thi hai chính sách chỏi nhau cùng lúc là không hợp lý, nhất là một bên sẽ gây khó khăn cho các NHTM, một bên tốn tiền ngân sách.

Cuối cùng, nếu NHNN thắt chặt tỷ lệ MM tối đa vì cho rằng balance sheet của các NHTM không lành mạnh thì đây cũng không phải biện pháp tối ưu. Nếu các NHTM có nguy cơ đổ vỡ vì thua lỗ (bad debt), NHNN nên siết chặt quản lý captial/asset ratio. Có thể rà soát lại balance sheet của từng NHTM và yêu cầu ngân hàng nào có tỷ lệ bad debt cao phải tăng capital. Nói chung capital buffer vẫn là biện pháp chống bank run và khủng hoảng tốt hơn các biện pháp quản lý liquidity. Tóm lại, thumb down cho Thông tư 15 vừa rồi của NHNN.

Update (24/08): TBKTSG có một bài của tác giả Tâm Dân "bênh" Thông tư 15 của NHNN. Tôi đồng ý với tác giả Tâm Dân rằng hệ thống tài chính VN cần phát triển thị trường vốn mạnh ra ngoài các NHTM. Nói chung các hoạt động investment banking là cần thiết và tất yếu. Tuy nhiên không nên cho rằng investment banking sẽ làm giảm rủi ro của hệ thống tài chính, nhất là khi VN chưa có đủ infrastructure (personel, rules, regulators) cho lĩnh vực này.

Update (25/08): Còn một điểm nữa tôi chưa đề cập đến khi cho rằng NHNN đưa ra qui định này để chống lạm phát. Thông thường độ dốc của đường yield curve sẽ cho biết expectation của market vào lạm phát và phản ứng của central banks như thế nào. Ở VN thị trường bond chưa phát triển và cũng không có instruments đủ dài để có thể construc yield curve. Tuy nhiên việc hạn chế MM sẽ buộc banks phải tăng lãi suất huy động trung và dài hạn, tương đương với đường yield curve dốc lên. Đây là một cách để chống lạm phát trong trung/dài hạn.


Monday, August 10, 2009

Monetizing debts


To monetize or not to monetize, that's a question! A billion dollar question.

Khi US Treasury phải phát hành một lượng lớn bonds để tài trợ cho thâm hụt ngân sách vì các chương trình giải cứu và kích cầu khổng lồ liên tục được đưa ra, rồi Fed thực hiện quantitative easing khi lãi suất đã xuống thấp đến mức không thể cắt giảm thêm được nữa, rất nhiều người đã nghi ngờ Fed đang monetizing nợ chính phủ. Nói một cách bình dân là Fed đang in tiền ra để chính phủ chi tiêu, hệt như những gì VN làm 20 năm trước và Zimbabwe làm năm ngoái. Hậu quả của việc in tiền thế nào thì người VN và người Zimbabwe thấm thía hơn ai hết. Tôi còn nhớ hồi những năm 80 nhiều người đã mất gần như sạch số tiền tiết kiệm cả đời vì siêu lạm phát. Hiện tại những ai đang có tiền tiết kiệm gửi tại Mỹ chắc rất hồi hộp, và hiển nhiên người có hơn US$800b tiết kiệm phải là người lo lắng nhất.

Là người VN và đã trải nghiệm giai đoạn 1980s với siêu lạm phát, tôi đã từng nghĩ US Treasury sẽ tăng cường phát hành TIPS, trái phiếu chính phủ được index theo lạm phát. Hóa ra không chỉ có tôi nghĩ vậy, có vẻ như trong cuộc họp Strategic and Economic dialogue vừa rồi giữa TQ và Mỹ, TQ đã yêu cầu Mỹ phát hành thêm TIPS. Vấn đề là ngay cả khi TQ có thể chuyển hết số US bonds của mình thành TIPS, số tài sản đó vẫn có nguy cơ mất giá trị nếu USD mất giá. Và giá trị của đồng USD đằng nào cũng phụ thuộc vào việc Fed có monetize số debt của chính phủ Mỹ hay không. Bởi vậy đây là "a billion dollar question", ít nhất đối với TQ.

Đáng buồn cho TQ, dường như đây là điều tất yếu. Chính Ben Bernanke đã được đặt biệt danh "Helicopter Ben" vì ông đã đưa ra phương án Fed mua lại US bonds từ năm 2002 và chính thức thực hiện nó từ tháng 3 vừa rồi. Về bản chất đây là "in tiền", chỉ khác với VN 1980s là Fed in tiền rồi chuyển qua Treasury thông qua thị trường bond chứ không credit trực tiếp vào tài khoản của Treasury. Nhưng nếu điều này "lộ ra" sẽ không còn ai mua bond của Treasury nữa và kế hoạch in tiền gián tiếp này sẽ phá sản qua hai kênh: bond yield tăng và lạm phát tăng. Vậy làm thế nào để nó không bị lộ?

Tuần trước Zero Hedge đăng lại một phát hiện của Chris Martenson về việc Fed đã mua lại 47% tổng số bond do US Treasury phát hành 7 ngày trước đó cho các primary dealers. Số bond này là 7-year bonds được phát hành ngày 30/07 trong một cuộc auction khá thành công. Điều đáng nói là một cuộc auction 5-year bonds trước đó không được giới đầu tư hưởng ứng (5-year bond yield tăng sau khi auction kết thúc). Thêm vào đó các primary dealer sau khi mua vào số 7-year bond này với giá 99.26 đã bán ra cho Fed với giá 99.07, chấp nhận lỗ chỉ sau một tuần. Zero Hedge, sau khi điều tra lại toàn bộ hoạt động OMO của Fed từ đầu năm tới giờ, cho rằng đây chính là cách Fed và Treasury đang tìm cách che dấu chính sách monetizing debt của mình. Fed âm thầm thỏa thuận với các primary dealers để họ tích cực mua bonds của Treasury trong các cuộc auction để giữ bond yield không tăng và các auction không thất bại. Sau đó Fed sẽ mua lại phần lớn số bond này và sẽ bù lỗ cho các primary dealers (Zero Hedge không giải thích được Fed sẽ bù lỗ bằng cách nào).

Conspiracy theory này của Zero Hedge bị John Jansen, một bond trader và là cựu nhân viên của Fed trading desk (chuyên mua bán bonds cho OMO), phản bác. Yves Smith của Naked Capitalism cũng phản đối Zero Hedge và Chris Martenson. Jansen cho rằng một conspiracy như vậy không thể giữ kín được và đợt mua bond vừa rồi hoàn toàn hợp lý vì on-the-run bonds thường được dealer giữ với số lượng lớn nên OMO của Fed sẽ dễ mua hơn. Smith cho rằng $300b kế hoạch bond buy back của Fed chỉ là hạt muối bỏ bể so với số outstanding debt và money base, do vậy Bernanke không thể monetize US debt bằng chương trình QE của mình. Tuy nhiên một số commenters chỉ ra rằng vấn đề boosting Treasury auction có lẽ mới là nguyên nhân chính đằng sau việc Fed vội vàng buy back như vậy.

Về mặt lý thuyết, nếu conspiracy theory của Zero Hedge có thật thì đây cũng là một giải pháp hợp lý. Hiện tại nguy cơ lạm phát rất thấp nhưng bond yield đang có xu hướng tăng vì lượng bond phát hành tăng trong khi foreign demand (TQ, Russia, Gulf states) có xu hướng giảm. Bond yield tăng có nguy cơ làm chậm lại quá trình phục hồi kinh tế, cho nên mục tiêu của Fed là phải giữ không cho bond yield tăng quá cao. Tất nhiên giữ cho các cuộc auction không thất bại cũng quan trọng vì sẽ tránh gây panic cho thị trường. Ngay khi lạm phát tăng lên, vấn đề monetizing debt sẽ không còn là Fed mua bao nhiêu bond mà sẽ là tốc độ lạm phát là bao nhiêu. Nếu lạm phát tăng cao hơn nominal yield, kèm theo kinh tế tăng trưởng trở lại, thì coi như Fed đã thành công một phần monetize số stock of debts dù Fed chỉ thực sự mua vào một phần số debt đó. Trong trường hợp này monetizing debt không phải là chính sách xấu.

Những nước như VN và Zimbabwe đã để lạm phát vượt khỏi tầm kiểm soát và monetizing debt đã tàn phá nền kinh tế. Liệu lần này Fed có kiểm soát được lạm phát hay không và quan trọng hơn là kinh tế Mỹ có phục hồi và tăng trưởng trở lại hay không, hi vọng câu trả lời là có. Nhưng với TQ ngay cả khi phương án tối ưu này xảy ra thì giá trị của số foreign reserve của mình cũng bị mất phần nào, không nhỏ so với GDP hiện tại của TQ nhưng sẽ không là gì nếu so với cashflow trong tương lai khi kinh tế Mỹ phục hồi và TQ tiếp tục có surplus.

Update (11/08): Fed vừa tuyên bố sẽ chấm dứt chương trình mua $300b US bonds vào giữa tháng 9.

Update (13/08): FOMC extended bond purchase to the end of Oct.

Update (17/08): Bruce Krasting nghiêng về phía cho rằng Fed đang monetizing debt. Bằng chứng là Fed intervene vào 30-year market trước khi Treasury auction 30-year bonds, not surprisingly successful.


Friday, August 7, 2009

A theory of history


Đây là lecture của Paul Romer, một nhà kinh tế đi đầu trong new growth theory, về lịch sử phát triển của nhân loại và đề suất của ông về một hình thái chính trị quốc tế mới thay cho hình thức sovereign border hiện tại: Charter Cities.


(A shorter version).


Thursday, August 6, 2009

Information II


Đa số các nhà kinh tế đều đồng ý rằng một trong những điều kiện tiên quyết để một nền kinh tế thị trường có thể đạt được hiệu quả tối ưu cho xã hội là không tồn tại bất đối xứng về mặt thông tin giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Tuy nhiên trên thực tế có rất nhiều rào cản ngăn cản sự phân bổ bình đẳng thông tin trong xã hội. Bởi vậy, nhà nước, trong vai trò kiến tạo và duy trì một nền kinh tế thị trường, thường tìm cách giảm thiểu sự bất đỗi xứng thông tin qua hai hình thức: (i) đưa ra các qui định và luật pháp đảm bảo sự bạch hóa thông tin tối thiểu của các đối tác liên quan đến các hoạt động kinh tế, và (ii) đứng ra cung cấp thông tin như một dạng dịch vụ công để đảm bảo sự bình đẳng thông tin cho mọi công dân và chủ thể kinh tế.

Ví dụ điển hình nhất cho các qui định và luật phát đảm bảo bạch hóa thông tin là các qui tắc kế toán, kiểm toán và báo cáo tài chính hàng năm của các công ty cổ phần. Các qui định này nhằm xóa bỏ/giảm thiểu sự bất đối xứng thông tin giữa các nhà đầu tư/đối tác và những người trực tiếp vận hành công ty. Một ví dụ khác ở nhiều nước là qui định buộc các sản phẩm thực phẩm phải ghi rõ thành phần dinh dưỡng/hóa học và các nguyên liệu cấu thành. Nhìn chung, biện pháp yêu cầu bạch hóa thông tin này chủ yếu tập trung vào private information khi một bên có incentives không cung cấp đầy đủ thông tin cho các đối tác của mình.

Biện pháp giải quyết thứ hai tập trung vào các loại thông tin rất tốn kém khi đi thu thập và cũng là những thông tin bản thân nhà nước cũng cần cho việc hoạch định các chính sách của mình. Ví dụ điển hình là các thông tin kinh tế vĩ mô mà một private entity khó có khả năng và nguồn lực tự đứng ra thu thập. Để đảm bảo sự công bằng tiếp cận dịch vụ công này, nhiều nước có các đạo luật qui định rõ
quyền tiếp cận thông tin của công dân cũng như nghĩa vụ cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước. Việc đảm bảo bình đẳng thông tin này không chỉ đơn thuần là đảm bảo một quyền công dân pháp định mà còn là cách giảm thiểu tình trạng bất đỗi xứng thông tin giữa các cá nhân kinh tế và giữa các cá nhân và cơ quan quyền lực nhà nước.

Ở VN, thông tin kinh tế vĩ mô chủ yếu được TCTK, Bộ Tài chính và NHNN thu thập và công bố. Đáng tiếc là VN chưa có một đạo luật nào qui định về nghĩa vụ công bố thông tin nên các cơ quan nói trên chưa coi việc cung cấp thông tin cho người dân là nghĩa vụ của mình. Trái lại, rất nhiều thông tin kinh tế bị liệt vào dạng bí mật quốc gia và người dân không được phép tiếp cận chứ đừng nói gì đến xử lý và công bố các kết quả phân tích của mình. Một ví dụ cụ thể là các thông tin liên quan đến dự trữ ngoại tệ của VN hoàn toàn vắng bóng trên website của NHNN. Mặc dù NHNN đã và đang thực hiện một số biện pháp can thiệp vào thị trường ngoại tệ (thông qua swap), các thông tin cụ thể của việc can thiệp này vẫn được giữ bí mật. Điều này vừa làm tăng uncertainty trên thị trường ngoại tệ vừa tạo ra sự bất bình đẳng về mặt thông tin: ai có được những thông tin này có thể hoạch định kế hoạch kinh doanh của mình tốt hơn các đối thủ cạnh tranh. Các nhà kinh tế độc lập khi muốn nghiên cứu tình hình thị trường để tìm giải pháp cho tình trạng khan hiếm ngoại tệ cũng hoàn toàn "bó tay".

Cá nhân tôi trong vài tháng đầu năm 2008 khi muốn làm một số nghiên cứu về tình hình lạm phát đã gặp nhiều khó khăn khi muốn tìm hiểu tỷ trọng của các mặt hàng trong rổ hàng hóa tính CPI. Đây là một thông tin kinh tế rất căn bản và cũng không có gì bí mật, nhiều quan chức đã nhắc đến các tỷ lệ này trên báo chí. Tuy nhiên dù đã lục tìm rất cẩn thận website của TCTK tôi cũng không tài nào tìm được thông tin mình cần. Cuối cùng tôi đã phải sử dụng một nguồn tài liệu không chính thức của IMF, với những số liệu có thể đã không được cập nhật. Tại sao những tổ chức quốc tế như IMF, ADB, WB lại có quyền tiếp cận thông tin kinh tế vĩ mô của VN tốt hơn một công dân VN? Hi vọng VN sẽ sớm có một bộ luật về quyền tiếp cận thông tin của người dân và nghĩa vụ cung cấp thông tin của các cơ quan thẩm quyền.

(Một version của entry này đã được đăng trên TBKTSG)

Update: Hóa ra hệ thống National Accounts đang được cả thế giới sử dụng để thống kê thông tin kinh tế xuất phát từ nhu cầu của các chính sách chống khủng hoảng của Mỹ trong thời Great Depression.

Update: Khi tôi bắt đầu làm luận án của mình và quyết định chọn đề tài nghiên cứu về VN, một số bậc đàn anh đi trước đã khuyên rằng nên chọn đề tài nào mà có thể dễ dàng kiếm được số liệu. Cho đến mấy năm gần đây nhiều bạn nghiên cứu sinh tôi có dịp tiếp xúc vẫn tiếp tục cho rằng số liệu kinh tế VN, cả chất lượng lẫn khả năng tiếp cận, là trở ngại lớn nhất khi làm luận án. Thật lãng phí khi sinh viên kinh tế không nghiên cứu được những đề tài cần cho xã hội chỉ mà chỉ làm được những đề tài có sắn số liệu.

Update (07/08): Có một hi vọng nhỏ là các nguồn số liệu độc lập như Google trend hay night lights sẽ ngày càng được cải thiện khi công nghệ phát triển và các nhà nghiên cứu sẽ bớt phải phụ thuộc vào thông tin macro do nhà nước thu thập.

Update (14/08): TCTK vừa công bố kết quả sơ bộ cuộc điều tra dân số và nhà ở lần 3 (04/2009). Không biết đây có phải hội nghị mà bác Nguyễn Văn Tuấn than phiền hay không, nhưng đúng là không thể hiểu được tại sao Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng lại phải tham gia hội nghị này. Btw, kết quả khảo sát dân số lần này cho biết tỷ lệ thất nghiệp của VN là 4.6%, tuy nhiên tổng số người thất nghiệp và thiếu việc làm lên đến 10%. Định nghĩa của người thiếu việc là làm việc dưới 35 giờ/tuần. TCTK sẽ tiến hành một cuộc điều tra riêng về việc làm trong tháng 9/2009.


Blogging II


Hôm qua gần như tất cả các econblog lớn đều có entry chia tay với Brad Setser, một blogger nổi tiếng về China và international capital flow. Setser ngừng blogging vì sắp trở thành nhân viên của Larry Summers trong NEC của White House. Tuần trước một blogger khác, Simeon Djankov, cũng từ bỏ thế giới econblog và vị trí economist của WB để trở về Bulgaria làm bộ trưởng bộ Tài chính. Thế giới econblog mất đi hai blogger xuất sắc nhưng giới policy makers có thêm hai economists giỏi. Trong khi đó IMF bắt đầu blogging...

Đến bao giờ mới có một policy maker hay một economist của VN tham gia vào thế giới econblog nhỉ?


Wednesday, August 5, 2009

Economics III


Tôi nhớ thời Greenspan còn là Fed chairman, ông đã tuyên bố rằng các nhà kinh tế đã rút ra được bài học từ Great Depression nên sẽ không bao giờ để nền kinh tế rơi vào khủng hoảng như thời 29-33 nữa. Thế rồi khi cuộc khủng hoảng hiện tại nổ ra, nhiều người đổ lỗi cho cách nhà kinh tế đã không dự đoán được và tệ hơn nữa là không biết cách đối phó với khủng hoảng. Tuy nhiên nhìn vào đồ thị dưới đây, dường như Greenspan đã đúng: tăng trưởng GDP per capita của Mỹ đã rất ổn định từ sau WWII dù nền kinh tế đã trải qua những giai đoạn booming, bubble, burst, recession, oil shocks, wars.... Rõ ràng các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách kinh tế đã học được bài học 29-33, đây mới chính là great moderation.

(Nguồn: Econompicdata)


Update (10/08): Brad Delong đưa thêm một bằng chứng nữa về great moderation sau giai đoạn 1930s, trong khi đó Krugman cho rằng big government là lý do Great Depression đã không xảy ra một lần nữa.



China IV


Một dấu hiệu cho thấy TQ đang trở thành một yếu tố quan trọng trong nền kinh tế thế giới là các econblogs bây giờ không ngày nào không có một vài topic về nước này. Hôm nay Free Exchange cho rằng khi ouput per capita của TQ tiệm cận các nước phát triển thì manufacturing share của TQ sẽ phải gấp 3-4 lần của Mỹ vì dân số TQ cao hơn dân số Mỹ 3-4 lần. Hiện tại manufacturing share của TQ là 12% còn Mỹ là 20%.

Trong khi đó Brad Setser lại cho rằng TQ là một unsual creditor vì tuy GDP per capita còn thấp nhưng lại đem tiền cho các nước khác vay. Hơn nữa hầu như toàn bộ capital outflow từ TQ là do government đem ra, còn private sector vẫn là net inflow. Như vậy mặc dù dân TQ nghèo nhưng chính phủ TQ thì giàu, ngược lại với hầu hết các nước phát triển.

Còn Michael Pettis, một chuyên gia về TQ và đang dạy ở đại học Bắc kinh, cho biết ngay cả Nhân dân Nhật báo cũng nghi ngờ về số thống kê của National Bureau of Statistics về tốc độ tăng lương 12.9% trong 12 tháng vừa qua. Điều này ngược hoàn toàn với tốc độ tăng lương (nagative) của các nước khác nên có 88% thành viên tham gia vào một survey của tom.com tỏ ra nghi ngờ về con số tăng trưởng này (Update 05/08: còn theo một cuộc survey khác, 91% số người được hỏi tỏ ý nghi ngờ). Nhưng ít ra báo chí TQ còn được khá tự do chỉ trích (hay "phản biện") công khai các chính sách và thống kê của chính phủ, chứ VN thì ...

Update (05/08): Economist.com cho rằng stimulus package của TQ vừa rồi khoảng từ 13-15% (thậm chí 18%) chứ không phải 7% như một số đánh giá khác. Hơn nữa không như Mỹ, TQ không có cơ chế federation nên các địa phương khi bị suy thoái không cắt giảm chi tiêu như các bang ở Mỹ (bị buộc phải tuân thủ balanced budget).

Update (06/08): Đến bao giờ VN mới có một tờ báo dám/được làm một cuộc survey như thế này.


Tom Cannon


Mấy hôm nay thấy báo chí bàn tán về chuyến viếng thăm của prof Tom Cannon, được giới thiệu là chuyên gia hàng đầu thế giới về hoạch định chiến lược phát triển. Thú thực tôi không biết gì về prof Cannon, có lẽ vì ông thuộc business field chứ không liên quan gì đến kinh tế. Bởi vậy tôi search thử internet để tìm hiểu thêm về ông thì thấy trang này trên Wikipedia. Nếu thông tin trên Wikipedia đúng thì prof Tom Cannon là một chuyên gia về professional sport (F1, soccer,...) và là cổ động viên của Everton. Không biết các đội bóng đá VN có mời Tom Cannon đến tư vấn hay không.


Tuesday, August 4, 2009

PMI


Manufacturing PMI (July-2009):

- Global:
- US: 48.9 (+4.1)
- UK: 50.8 (+3.4)
- EU: 46.3 (+3.7)
- GE: 45.7 (+4.8)
- FR: 48.1 (+2.2)
- IT: 48.1 (+2.2)
- SP: 47.3 (+4.5)
- SD: 54.3 (+3.8)
- NW: 49.7 (+1.1)
- SW: 44.3 (+2.5)
- RU:
- JP:
- AU: 44.5 (+6.1)
- CH: 53.3 (+0.1) - CFLP
- CH: - CLSA
- IN:



Monday, August 3, 2009

Global democracy index


Khi xây dựng một aggregate index (ví dụ CPI), quyết định trọng số cho các thành phần trong index sẽ được tính như thế nào rất quan trọng. Đã có rất nhiều database đo lường mức độ democracy của các nước, tuy nhiên khi xây dựng global index vấn đề chọn trọng số như thế nào cũng khá nhức đầu. Brad Setser đưa ra ý tưởng dùng economic output của từng nước làm trọng số:


Một điểm đáng lưu ý từ đồ thị trên là global index có những giai đoạn giảm rất dài nhưng chậm, xem kẽ với một vài thời điểm index này nhảy vọt sau những sự kiện lớn trong lịch sử (WWII, Soviet union collapse). Trong vài thập kỷ tới, nếu không có gì thay đổi lớn ở TQ thì global democracy sẽ tiếp tục giảm.