Tuesday, May 18, 2010

Plaza Accord


Xem chân dung Paul Krugman 25 năm trước, khi đa số readers của kinhtetaichinh chưa ra đời và bác Tố Hữu đang loay hoay với giá-lương-tiền:



Monday, May 17, 2010

Speculation II


Trong phần comment của entry trước, bạn Anonymous (May 14, 5:38AM) và bạn Big Happy Man có cùng một ý: NHNN không (dám) can thiệp vì họ "yếu". Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận định này, nhưng như thế không có nghĩa là NHNN cần "can thiệp" bằng cách xử lý SSI vì tội cung cấp thông tin "nhạy cảm" cho Bloomberg. Nếu nói về mức độ ảnh hưởng đến thị trường và nền kinh tế, có ai còn nhớ bài "Beyond the tipping point" một thời đình đám của Morgan Stanley không? Liệu NHNN có định xử lý các IB quốc tế nếu họ đưa ra dự báo có thể còn tệ hơn dự báo của SSI không?

Một comment khác của bạn Nguyen Hong Hai cho rằng SSI cố tình manipulate thị trường để kiếm lợi và NHNN "đánh" SSI vì tội này. Nếu SSC chứng minh được "âm mưu" này của SSI, tôi nghĩ phải khởi tố hình sự ông Hưng chứ không đơn thuần xử lý hành chính. Market manipulation là một tội hình sự và có vẻ SSC từ trước tới giờ vẫn bất lực trước các "đại gia" có vô vàn thủ thuật làm giá/tạo sóng trên thị trường để "làm thịt" các nhà đầu tư nhỏ lẻ. Nếu bạn Hải/NHNN/SSC chứng minh được ông Hưng có âm mưu manipulate market thì đây sẽ là một bước tiến lớn cho thị trường chứng khoán VN và tôi xin chúc mừng. Có điều tôi nghi ngờ khả năng này.

Tôi thực sự thất vọng khi một tờ báo hàng đầu như TT mà lại có ý kiến "giáo điều" như bạn Duy Linh cho biết, dù đây là tờ báo luôn đi tiên phong trong công cuộc cải cách của VN hơn 20 năm qua. Nếu không có bằng chứng SSI tìm cách manipulate thị trường, tôi tin chắc VN không có luật lệ nào ngăn cấm một cá nhân hay tổ chức đưa ra dự báo kinh tế. Cá nhân tôi cũng vừa tham gia vào một nghiên cứu dự báo tỷ giá VNĐ sẽ được công bố công khai và không loại trừ khả năng Bloomberg hay một tờ báo trong hoặc ngoài nước khác trích dẫn. Cũng xin nói rõ luôn là dự báo của chúng tôi cho thấy VNĐ sẽ mất giá khoảng 5.5% trong năm 2010.

Tôi chia sẻ quan điểm của chuyên gia Bùi Kiến Thành (link của bạn Anonymous May 14 1:15AM) và của TS Quách Mạnh Hảo (link của bạn thaotm). Phá giá không phải là chiếc đũa thần cho tăng trưởng kinh tế, nhất là trong điều kiện physical/social infrastructure như hiện nay của VN. Tuy nhiên quan điểm của tôi là cần phải phá giá để VNĐ về đúng với fundamental value của nó, tránh các imbalances không tốt cho phát triển bền vững và rủi ro khủng hoảng sau này. Tôi không dám chắc nhưng cho rằng SSI dự báo VNĐ sẽ mất giá 4%, giống như dự báo của chúng tôi (mất giá 5.5%), là dựa trên fundamentals của nền kinh tế. Nếu ông Hưng có nói với Bloomberg rằng NHNN sẽ phá giá 4% (tôi không thấy chi tiết này trong bản tin của Bloomberg), điều đó hàm ý rằng nhiều khả năng NHNN sẽ đưa tỷ giá về đúng giá trị thực, điều mà NHNN chắc chắn sẽ không phản đối.

Như đã nói trong entry trước, một dự báo có thể sai vì số liệu, mô hình, phân tích không chính xác, nhưng nếu nó được thực hiện một cách công tâm thì không có lý do gì ngăn cấm phổ biến nó cho những người quan tâm tham khảo và phản biện. Một khi ai đó đặt ra một cái lằn ranh "nhạy cảm" để hạn chế thông tin (hoàn toàn xa lạ với thông lệ quốc tế), nền kinh tế sẽ được/bị lái theo hướng được cho là "đúng" theo ý chí chủ quan của một/vài người. VN đã qua rồi thời "bao cấp kinh tế", mong rằng "bao cấp thông tin" cũng sẽ đi vào dĩ vãng.



Saturday, May 15, 2010

Fiscal tricks


Không ai muốn có nợ nần và càng không ai muốn nhìn thấy nợ của mình tăng lên. Bởi vậy không có gì khó hiểu khi nhiều chính phủ tìm cách che dấu số nợ công bằng nhiều cách. Hi lạp đã sửa lại số liệu thống kê và sử dụng currency swap với Goldman Sachs để che giấu bớt nợ. Iceland/Ireland bảo lãnh cho hệ thống ngân hàng cũng là cách giấu các khoản "trích lập dự phòng" cho rủi ro tài chính ra khỏi ngân sách. Latvia dùng BOT để chuyển nợ từ balance sheets của chính phủ ra các công ty tư nhân, vụ PMC ở VN cũng vậy. Và vừa rồi Albany giảm bớt nợ bằng cách chính phủ bán một khách sạn cho ngân hàng trung ương với giá €30m, đắt hơn gấp 5 lần giá thị trường.

Dẫu sao nợ vẫn là nợ, đến một lúc nào đó cái kim trong bị sẽ lòi ra như Hi lạp và Iceland. Nhất là khi những khoản nợ được chi cho những công trình, dự án không hiệu quả hay bị rút ruột quá nhiều thì không sớm thì muộn nền kinh tế và người dân sẽ phải trả giá.


Friday, May 14, 2010

Speculation


Các đây vài năm trong giới finance của Úc có một số người nghi ngờ rằng RBA, ngân hàng trung ương Úc, can thiệp vào thị trường ngoại tệ chỉ đơn giản vì cơ quan này muốn kiếm lợi nhuận chứ không phải vì nhu cầu bình ổn tỷ giá, nghĩa là hoàn toàn là một speculator. Stabilization chỉ là hệ quả của speculation như tôi đã đề cập đến trong entry trước chứ không phải là mục đích của RBA (và điều này không có gì là xấu, RBA vừa kiếm được tiền vừa bình ổn được tỷ giá).

Lập luận của những người nghi ngờ RBA như sau: ai cũng biết tỷ giá của một đồng tiền (so với một đồng tiền khác) về lâu dài phụ thuộc vào các yếu tố fundamental (i.e. current account balance, capital flow, inflation,...). Bởi vậy nếu RBA cho rằng tỷ giá thay đổi vì fundamentals thay đổi thì không có lý do gì họ phải can thiệp và trên thực tế RBA không bao giờ can thiệp để định hướng AUD trong dài hạn. Trong ngắn hạn, tỷ giá có thể biến động vì các yếu tố tâm lý hay trading noises và điều này sẽ attract các currency speculators nhảy vào kiếm lợi khi đồng AUD bị cho là over hay undervalued, do đó thị trường sẽ tự động bình ổn sau một thời gian ngắn.

Với một thị trường FX khá sâu và rộng như của đồng AUD, không có lý do gì để nghi ngờ sức mạnh của giới speculators và khả năng bình ổn thị trường của họ. Như vậy RBA tham gia bình ổn là thừa và những hoạt động này chỉ nhằm mục đích kiếm lời như các speculators khác. Khả năng duy nhất để RBA phải can thiệp là khi AUD bị tấn công, nghĩa là các private speculators vào hùa với nhau đặt lệnh mua/bán cùng một phía để tạo ra self-fulfilling appreciation/depreciation như trường hợp GBP của Anh bị tấn công năm 1992 hay đồng Baht của Thailand năm 1997. Tuy nhiên cần lưu ý trong cả hai trường hợp trên, và có lẽ tất cả các trường hợp currency attack khác, các đồng tiền bị tất công đã bị giữ cao hơn fundamental value quá nhiều và quá lâu, bởi vậy đúng ra ngân hàng trung ương cũng không nên can thiệp vì lý do fundamental như đã nói bên trên.

Quay lại vụ lùm xùm SSI dự báo VNĐ sẽ bị phá giá thêm 4% nữa, phó thống đốc NHNN Trần Minh Tuấn cho biết đã "mách" Thủ tướng và SSC để xử lý SSI vì tội tung tin đồn thất thiệt gây ra hoang mang và ảnh hưởng đến thị trường ngoại hối VN. Không nói đến chuyện SSI có quyền đưa ra những dự báo như vậy hay không và Bloomberg có quyền đưa tin công khai hay không (theo tôi họ có quyền), trên quan điểm một speculator tôi thấy NHNN đã bỏ lỡ một cơ hội rất tốt khi tỷ giá VNĐ thay đổi mấy ngày qua vì lý do tâm lý. Nếu thực sự NHNN tin rằng fundamentals của VNĐ không có vấn đề gì và sự biến động tỷ giá vừa qua chỉ là tâm lý hoang mang do bản tin của Bloomberg, NHNN nên nhanh chóng bán ngoại tệ ra để speculate, vừa kiếm lợi vừa được tiếng là đã kịp thời bình ổn thị trường, giúp tăng credibility của cơ quan này vốn đang không được cao.

Việc NHNN tìm cách "trừng trị" SSI và liệt thông tin về tỷ giá vào loại "nhạy cảm" theo tôi chẳng có ích gì cho việc bình ổn thị trường và giảm bớt ảnh ưởng của yếu tố tâm lý vào thị trường ngoại hối. Nếu tôi là ông Trần Minh Tuấn tôi sẽ yêu cầu SSI trình bày các nghiên cứu tỷ giá của họ và chỉ ra cho họ thấy những sai lầm trong số liệu, mô hình, tính toán của SSI để công ty này tự khắc phải revise và công bố lại dự báo tỷ giá. Tôi cũng chẳng dại gì "đổ thêm dầu vào lửa" bằng cách công bố NHNN vừa mua vào 1 tỷ USD trong mấy tuần vừa qua, chẳng khác gì nói với giới speculators rằng NHNN đang rút bớt FX supply ra khỏi thị trường.

Tất nhiên tất cả những điều tôi nói ở trên sẽ không đúng nếu trong thâm tâm NHNN đang có ý định phá giá như SSI dự báo vì lý do fundamentals. Mà phá giá thêm cũng chẳng phải là điều gì tồi tệ, theo tôi còn có tác động tốt cho nền kinh tế VN. Nhưng tìm cách xử lý SSI hay bất kỳ một tổ chức tài chính nào khác chỉ vì họ đưa ra một dự báo làm hoang mang thị trường, theo tôi, là sai lầm.


[Full disclosure: Tôi không có bất kỳ financial interests nào đối với SSI hay các financial institutions khác ở VN.]


Update (24/5): Thomas Palley đề nghị ECB phải thực hiện chức năng speculation, mua lại government bonds của các thành viên khi đang có debt crisis. Điều này vừa giúp trấn an thị trường, vừa ổn định mặt bằng lãi suất, và vừa giúp các thành viên repay debts với chi phí thấp hơn.


Thursday, May 13, 2010

Economic thoughts


1. Naked short sells: Theo tin này của TT, một số công ty chứng khoán bị thiếu số dư chứng khoán tại trung tâm lưu ký. Đây là bằng chứng của naked short sells, nghĩa là short sells mà người bán không vay được chứng khoán trước khi ra lệnh bán. Short sell đã rủi ro (vì unlimited risks) nhưng naked short sell còn nguy hiểm hơn và đã bị cấm ở hầu hết các sàn chứng khoán lớn trên thế giới. Hi vọng SSC sẽ mạnh tay với các công ty chứng khoán và các nhà đầu tư vi phạm này.

2. SSI: Cũng trên TT, một bài báo của tác giả Thiên Thu lên án SSI đã dám đưa ra dự báo NHNN sẽ phá giá VNĐ thêm 4% nữa. Tôi thấy việc này bình thường, ai đó đưa ra dự báo tỷ giá không thể là điều cấm kỵ dù dự báo xu hướng chung chung hay dự báo chính xác đến 4 số thập phân. Bản tin của Bloomberg đúng là có tựa rất "giật gân", nhưng Bloomberg chưa bao giờ được đánh giá cao về các bài phân tích bình luận kinh tế, tài chính, họ chỉ mạnh ở mảng đưa tin thời sự thôi. [Ngoài lề: Bản tin của Bloomberg nói SSI là công ty chứng khoán lớn thứ 2 của VN, tôi nhớ cách đây vài năm SSI vẫn là số 1, vậy bây giờ ai đã qua mặt SSI?]

3. Gold export: Một trong những ý tưởng quan trọng (để đời) của Milton Friedman là "speculations stabilize markets": các nhà đầu cơ mua vào khi giá thấp giúp giá không tiếp tục rơi, ngược lại họ bán ra khi giá cao giúp ngăn không cho giá tăng thêm nữa. Thị trường vàng của VN chắc còn rất nhiều speculators dù các sàn vàng đã bị đóng cửa, bằng chứng là mấy hôm nay lượng vàng bán ra tăng vọt. Đi xa hơn nữa, tác giả Ngọc Minh của TN còn đề suất VN nên tranh thủ speculate bằng cách cho xuất vàng vì giá thế giới đang cao. Một công đôi chuyện vừa stabilize thị trường vàng vừa stabilize thị trường ngoại tệ. Có điều nếu đã cho xuất tự do thì cũng nên cho nhập tự do, đừng điều hành theo kiểu speculation dựa vào giá thế giới, chỉ béo bở cho những insiders của NHNN.

4. PMC: Hồi những năm 90 rất nhiều dự án lớn của VN khi đấu thầu đều rơi vào tay các công ty Hàn quốc (sau này hình như là TQ). Lý do là họ chào giá rẻ nhất và có nhiều ưu đãi cho chủ thầu. Nhưng đến khi thực hiện đa số các dự án đều phát sinh và chi phí cuối cùng thường cao hơn rất nhiều giá chào thầu. Vì đã đâm lao phải theo lao, chủ thấu VN buộc phải chi thêm tiền để hoàn thành dự án. Lúc đó có người đã nhìn thấy mánh khóe này của các công ty Hàn quốc nhưng chẳng làm gì được vì decision makers (không phải các chuyên viên chấm thầu) chỉ quan tâm đến giá chào thầu và những chuyến đi nước ngoài, chưa kể những chấm phẩy bên ngoài nữa thì không ai biết. Nhắc lại chuyện cũ để thấy PMC cũng cho TPHCM vào tròng y như vậy. Họ lập dự án cầu Phú Mỹ rất đẹp, rất hiệu quả, để rồi xây cầu xong mới đòi phải thu phí xe gắn máy, bỏ trạm thu phí đường NVL,... Mà không rõ các khoản nợ của PMC có được TPHCM bảo lãnh không, nếu có thì thành phố chẳng còn lối thoát nào khác là bailout PMC bằng cách "đánh thuế" người dân qua cầu.

Update: Không phải nếu nữa mà chính xác là $93m tiền đầu tư cầu Phú Mỹ do PMC đi vay đã được chính phủ bảo lãnh.

Update (17/07): TPHCM đã phải chi 120 tỷ cho PMC trả nợ

Update (20/6/11): PMC than tỷ giá tăng nên không trả được nợ, yêu cầu TP HCM phải giãn nợ nếu không PMC sẽ trả lại cầu Phú Mỹ cho thành phố quản lý, tất nhiên trả luôn số nợ họ đang ôm.


Non-economic thoughts


1. China beach: Đọc tin trên báo TN về vụ bãi biển Non nước được quảng cáo là China beach, tôi chợt nhớ cách đây mười mấy năm một người bạn Mỹ đã nhắc đến cái tên này. Lúc đó tôi cũng thắc mắc tại sao một bãi biển thuộc hàng đẹp nhất của VN lại có tên như vậy. Anh bạn Mỹ nói anh cũng không biết nhưng ở Mỹ có một series phim truyền hình khá nổi tiếng với tên China Beach (tôi vừa search thử Google thì thấy series này nổi tiếng thật). Có lẽ những người làm du lịch và khách sạn ở đây muốn ăn theo sự nổi tiếng của series phim này, không ngờ bây giờ bị rắc rối.

2. VGU: Tôi thường dị ứng khi nhìn thấy tiêu đề "đại học đẳng cấp quốc tế" trên báo chí, nhưng không thể không mừng cho đại học Việt - Đức khi đưa ra cách tuyển sinh mới này: không xét điểm thi đại học mà đánh giá dựa vào điểm học tập phổ thông và 2 bài test của riêng mình. Tôi đặc biệt ấn tượng khi thấy danh sách các môn học phổ thông mà VGU xét có môn văn mặc dù ngành học là kỹ thuật điện và công nghệ thông tin. Xin chúc mừng VGU, một tín hiệu tốt lành cho giáo dục đại học VN. (Có thể đây cũng là một "tin tốt" nữa).

3. Tê giác: Hôm trước đầy phẫn nộ khi đọc tin một con tê giác một sừng cực kỳ quí hiếm bị bắn chết và cưa mất sừng ở rừng quốc gia Cát tiên. Hôm nay được giải tỏa phần nào khi biết con tê giác này chết tự nhiên chứ không phải bị bắn. Tuy nhiên tôi vẫn thắc mắc không biết cái sừng con tê giác hiện ở đâu, bản tin của VNN không nhắc gì đến việc này. Liệu cái sừng đó có bị ai cưa mất không hay đoàn công tác WWF đã thu được? Dẫu sao nếu đây là cái chết tự nhiên thì hi vọng cụ tê giác này đã sống thọ và đã kịp để lại vài hậu duệ.


Wednesday, May 12, 2010

Stock quote


Hồi năm 98-99 tôi tập tễnh xem tin tức tài chính chứng khoán Mỹ trên TV, vẫn còn nhớ những bình luận viên như Paul Kangas, Susie Gharib. Lúc đó tôi rất ngạc nhiên khi thấy cổ phiếu Mỹ được định giá không phải theo hệ thập phân cho phần lẻ (nhỏ hơn 1 dollar) mà là hệ 1/8, nghĩa là giá stock được quote là $x + 1/8, 2/8, 3/8.... Hỏi nhiều người cũng chỉ biết đó là truyền thống trên thị trường chứng khoán Mỹ. Sau này có đọc được ở đâu đó lý do của việc dùng hệ 1/8 như vậy vì ngày xưa khi mua bán trái phiếu (và các tài sản khác) người ta dùng các thanh vàng và bạc hoặc đồng xu vàng bạc. Để thanh toán cho những phần lẻ thì chia một thanh/đồng xu vàng/bạc thành 1/8, 2/8, 3/8... dễ hơn là chia 1/10, 2/10.... Chẳng biết thuyết này có đúng không nữa.

Bây giờ đọc bài này của Daniel Gross mới biết thực ra Wall Street cho đến cuối thế kỷ 20 vẫn cố giữ cách quote cổ xưa đó không hẳn vì thói quen mà vì như vậy họ có bid-ask spread rộng hơn, do đó lợi hơn trong vai trò trung gian (market makers). Phải đến khi SEC buộc các exchange dùng hệ thập phân (năm 2000-2001) thì cách quote cổ lỗ kia mới biến mất. Hệ quả là bid-ask spread giảm xuống đáng kể và các market makers mất một nguồn thu lớn. Hình như HOSE mấy năm trước cũng yêu cầu các công ty niêm yết phải giảm face value từ 100 nghìn xuống 10 nghìn, có lẽ cũng cùng mục đích.

Update (24/5): Có một điều lạ nữa liên quan đến các con số tài chính. Thường các ngân hàng trung ương tăng giảm lãi suất theo từng nấc 25bps (0.25%). Riêng PBoC tăng/giảm theo 27bps. Không chỉ tăng giảm lãi suất theo khoảng cách lạ đời này, PBoC còn thay đổi required reserve ratio cũng theo bội số của 27.


CB independence II


Tuần trước báo chí VN rộ lên tin chính phủ yêu cầu NHNN phải có biện pháp hạ thấp mặt bằng lãi suất xuống, huy động khoảng 10% còn cho vay chỉ được 12%, nghĩa là 2% spread. Cũng lạ là đã hơn 1 tuần rồi mà chưa thấy ai có ý kiến gì về "chỉ thị" này của chính phủ (có thể tôi đọc báo không hết, bạn nào thấy có tin tức gì làm ơn gửi link). Không biết đại diện IMF/WB/ADB ở VN nghĩ thế nào về việc này. Và các analysts của S&P, Moody, Fitch sẽ đánh giá credit rating của VN ra sao sau đây, tôi đoán họ sẽ gãi đầu gãi tai không biết sẽ phân loại VN vào nhóm nào nữa. Hiện chưa có rating agency nào có nhóm SSS.


International monetary system


Hôm qua IMF và SNB tổ chức High-level Conference on the International Monetary System, tiếc là chưa có website mà mới chỉ có 2 bài phát biểu openning và closing. Hi vọng mấy hôm nữa IMF sẽ mở website và đăng tải các bài phát biểu khác. Money Supply có một bài tóm tắt các thảo luận chính của conference này, trong đó có đoạn sau:

"...there is no panacea in terms of international monetary systems - fixed exchange rates, floating rates, gold standards. Instead, all these systems fail, ultimately because of the bad behaviour of governments. The conclusion was that it was not the system that was at fault -either in the eurozone or in the global financial crisis - but the behaviour of the participants within the system that was at fault."


High speed train II


Tôi đồng ý với ông Nguyễn Hữu Bằng, TGĐ Tổng công ty Đường sắt VN, chủ đầu tư (dự kiến) của dự án đường cao tốc Bắc - Nam. Với một dự án lớn ở tầm quốc gia như dự án này, trước hết các nhà hoạch định chính sách cần cân nhắc có nên làm một tuyến đường sắt vĩ đại như thế vào lúc này hay không, nếu đồng ý làm thì hãy xem xét đến các khía cạnh khả thi như vốn, nợ, đầu tư, môi trường...

Ở tầm thảo luận "siêu vĩ mô" như thế những vấn đề cần cân nhắc phải là chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng cho vài chục năm tới. Điều này cần phải xem xét và phân tích trong bối cảnh địa chính trị thế giới, khu vực, đặc thù địa lý, xã hội, kinh tế của VN, môi trường toàn cầu... Ví dụ nếu căng thẳng trên biển Đông gia tăng thì sao, hay nếu nước biển dâng lên vì global warming thì tuyến đường sắt này có bị ảnh hưởng gì không. Tôi không đủ tầm để bàn về những vấn đề cao siêu như vậy, xin lắng nghe ý kiến các chuyên gia và các vị lãnh đạo.

Tuy nhiên tôi không đồng ý với ý kiến của ông Lã Ngọc Khuê, nguyên thứ trưởng Bộ GTVT về việc phải làm đường sắt cao tốc vì tình hình mất cân đối giữa đường sắt và đường bộ ở VN. Tôi không có số liệu nhưng qua quan sát cá nhân và đọc một số thông tin trên báo chí thì cả Mỹ và Úc đều có tỷ lệ vận tải đường sắt rất thấp. Đã có một số ý kiến tương tự như của ông Khuê rằng Mỹ phải cân bằng lại tỷ lệ đường sắt và đường bộ. Trong giai đoạn suy thoái vừa qua cũng có đề nghị chi một phần gói kích cầu của Mỹ cho một số dự án đường sắt cao tốc. Một số người cho rằng phải giảm tỷ lệ vận chuyển cá nhân của dân Mỹ bằng xe hơi để giảm petroleum demand, vừa bảo vệ môi trường vừa tránh bị phụ thuộc vào giá dầu thế giới.

Phản bác lại lập luận này (cân bằng tỷ lệ đường sắt/đường bộ), một số nhà kinh tế chỉ ra rằng thực ra Mỹ có hệ thống vận tải đường sắt rất phát triển trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Nhưng đường sắt đã không thể cạnh tranh được với đường bộ và đường không vì đặc thù địa lý của Mỹ và sự hình thành các distribution chains (eg. siêu thị) đã làm thay đổi nhu cầu và cách thức vận tải hàng hóa. Sự phát triển của công nghệ hàng không cũng làm chi phí vận tải bằng kênh này trở nên cạnh tranh hơn và đường sắt đã bị đào thải. Tình trạng đường sắt ở Úc cũng tương tự: nhiều tuyết đường sắt vang bóng một thời trước đây bây giờ chỉ phục vụ du lịch hoài cổ (cho những người thích đi trên những toa tầu cổ). Đường sắt không thể cạnh tranh với hàng không cho vận chuyển hành khách và đường biển cho vận tải hàng hóa.

VN có địa thế dài dọc biển (đa số dân sống dọc bờ biển), do đó sẽ có nhiều điểm tương đồng với Mỹ và Úc trong vấn đề cạnh tranh giữa đường sắt và đường không/đường biển. Đặc thù địa lý này là lý do tôi không đồng ý với quan điểm của ông Lã Ngọc Khuê. Không thể đem tỷ lệ đường sắt/đường bộ của các nước khác ra để nói VN cần phải có tỷ lệ tương đồng. Một nước có thể có rất ít/không có đường sắt vì đặc thù của nước đó. Tất nhiên đây chỉ là một khía cạnh nhỏ, như tôi đã nói đến bên trên còn nhiều vấn đề "siêu vĩ mô" khác quan trọng hơn. Bởi vậy tôi mong sẽ có nhiều chuyên gia có thẩm quyền lên tiếng chứ không nên đẩy ngay ra Quốc hội để các nghị sĩ vốn có rất ít chuyên môn quyết định. Nếu cần thuê một công ty tư vấn quốc tế làm nghiên cứu tiền khả thi, nhưng cần tránh thuê các công ty Nhật hoặc Đức/Pháp là những nước cung cấp thiết bị cho đường sắt cao tốc để tránh conflict of interests.

[Ngoài lề: TS Nguyễn Quang A cho rằng chi phí xây dựng tuyến đường sắt này sẽ tăng 30%, như vậy tổng số chi phí sẽ là 55.8 tỷ x 1.3 = 72.5 tỷ USD, tôi không hiểu tại sao TS Quang A lại đưa ra số 100 tỷ.]


Update (17/5): Điều mà tôi lo ngại có vẻ sắp xảy ra. Tổng công ty Đường sắt/Bộ GTVT/chính phủ có vẻ đã chuyển dự án này sang QH dù họ chưa có nghiên cứu nào về tính khả thi của dự án (thậm chí tiền khả thi cũng chưa có), mới chỉ có hội thảo mà một số chuyên gia đã có ý nghi ngờ. Bây giờ chỉ còn hi vọng QH sẽ treo dự án này lại, hoặc thẳng thừng bác bỏ (unlikely). Tôi nghi ngờ QH sẽ lại thông qua như vụ bauxite :-(

Update (19/5): Hóa ra báo cáo tiền khả thi của dự án này đã được hoàn thành từ tháng 2/2009. Tất nhiên tiền khả thi chưa thể đưa ra các con số cụ thể, nhưng ít nhất cũng phải chỉ ra những lợi ích và rủi ro của dự án, bao gồm một vài yếu tố tôi đề cập đến bên trên. Liệu đường sắt cao tốc có bị rủi ro khi thiên tai/an ninh xảy ra hay không? Liệu có cạnh tranh được với hàng không giá rẻ hay không? Thay vì làm đường sắt cao tốc chuyển sang phát triển vận tải bằng các hình thức khác (hàng hải, hàng không, đường bộ) thì cái nào hiệu quả hơn? Mong rằng QH sẽ yêu cầu Bộ GTVT công bố bản báo cáo tiền khả thi này.

Update (21/5): Theo TS Trần Đình Bá, high speed train sẽ chỉ có thể sử dụng để vận chuyển hành khách, ngay cả một kiện hàng vài trăm kg cũng không thể chở được. Ngoài ra với tốc độ trên 300km/giờ, trong điều kiện mưa bão lớn của VN khả năng lật tàu là rất cao. TS Bá nói các tuyến high speed trains hiện tại trên thế giới chỉ có thể xây dựng ở những vùng khí hậu ôn đới. Kể ra cái correlation này chưa chắc đã là causation, biết đâu chỉ có các nước ôn đới mới đủ tiềm lực kinh tế để xây dựng và khai thác high speed trains? Dẫu sao bài viết của TS Trần Đình Bá là một phản biện rất đáng đọc, đặc biệt đoạn nói về việc ngành đường sắt VN đã vứt qua cửa sổ 2 tỷ USD để kiên cố hóa hệ thống đường sắt khổ 1m hiện tại (có ai còn nhớ vụ lật tầu ở đèo Hải Vân không?).