Thursday, April 15, 2010

CIC


Đọc bài này của tác giả An Lộc (nếu không đọc được bạn vào đây) tôi mới biết đến Trung tâm thông tin tín dụng CIC của NHNN. Không rõ trung tâm này ra đời khi nào, nhưng khác với tác giả An Lộc, tôi ủng hộ hoạt động này và chẳng thấy nó có tính chất "mật vụ" gì cả. Việc thu thập và cung cấp credit history của doanh nghiệp và cá nhân khá phổ biến ở các nước, đây là một dạng dịch vụ nhằm giảm bớt tình trạng bất đối xứng thông tin giữa người đi vay và ngân hàng, nói chung là một dịch vụ có ích cho xã hội.

Tôi không rõ qui trình thu thập thông tin và xếp loại tín dụng cho các doanh nghiệp của CIC thế nào, có thực sự "hà khắc" như tác giả An Lộc viết hay không. Có điều theo kinh nghiệm của các tổ chức cung cấp credit history ở các nước, doanh nghiệp có quyền khiếu nại về kết luận của các tổ chức này. Vẫn biết việc khiếu kiện một cơ quan hành chính ở VN là rất khó khăn, nếu thực sự bị xếp vào "nhóm 3" tương đương với án tử hình cho doanh nghiệp như tác giả An Lộc viết thì họ vẫn nên đi kiện. Một cách khác là doanh nghiệp xin CIC một bản copy credit history của mình và chỉ ra cho ngân hàng mà mình định vay "lỗi lầm trong quá khứ" chỉ là chậm trả vài trăm nghìn trong số nợ hàng tỷ. Nếu ngân hàng cho vay vẫn chưa thuyết phục thì nộp thêm thế chấp hoặc tìm một bên thứ ba đứng ra bảo lãnh. Không được nữa thì chấp nhận trả lãi suất cao lên và/hoặc giảm số tiền vay xuống. Tóm lại tình trạng "án tử hình" do CIC phán quyết như tác giả An Lộc chỉ ra chắc sẽ không tồn tại lâu.

Về lâu dài NHNN nên "spin-off" CIC thành một đơn vị độc lập và có thể "xã hội hóa" nó. Đồng thời NHNN nên khuyến khích các tổ chức tư nhân khác tham gia vào hoạt động này, có thể là một liên doanh do các ngân hàng góp vốn để cung cấp thông tin cho chính mình. Tôi rất lạc quan về CIC, không như tác giả An Lộc.

Update: Một bạn gửi private email cho tôi biết Chính phủ đã ra Nghị định 10/2010/NĐ-CP cho phép hoạt động cung cấp thông tin tín dụng tư nhân bắt đầu có hiệu lực từ ngày hôm nay (15/4/2010). Vietcombank đã đứng đầu một nhóm 11 ngân hàng lập công ty dịch vụ PCB chuẩn bị cho thị trường này. Theo Tạp chí Ngân hàng số 35 (1/3/2010) một liên doanh giữa Mozaik và TransUnion của Mỹ cũng đã chuẩn bị vào cuộc. Như vậy bên cạnh CIC đã có ít nhất 2 công ty cung cấp credit history/rating, một điều đáng mừng cho sự phát triển của thị trường tài chính VN. Hi vọng những lo lắng của tác giả An Lộc sẽ được giải tỏa.


Tuesday, April 13, 2010

M&A


Tác giả Lê Trọng Nhi (thành viên nhóm Thứ sáu huyền thoại) có một bài viết trên SGTT cổ súy cho hoạt động mua bán/sáp nhập công ty (M&A). Sau khi tóm tắt trào lưu M&A trên thế giới và châu Á, ông Nhi cho rằng doanh nghiệp VN cần chủ động M&A, nếu không sẽ "từ thua đến thua". Tôi không dám bàn về hiệu quả kinh tế/kinh doanh của M&A vì không có kiến thức/kinh nghiệm trong corporate finance, chỉ có vài suy nghĩ trên góc độ kinh tế vĩ mô.

Thứ nhất, M&A chỉ có hiệu quả khi economies of scale còn tác dụng. Vụ sụp đổ của Worldcom của Mỹ mấy năm trước và ABC của Úc gần đây là hậu quả của dis-economies of scale, nghĩa là sau hàng loạt những M&A đình đám, hai doanh nghiệp này không còn kiểm soát được management và finance của mình, dẫn tới thua lỗ và phá sản. Vấn đề economies of scale phụ thuộc nhiều vào độ lớn của thị trường và nhất là năng lực quản lý cũng như năng lực tài chính của doanh nghiệp chủ động M&A. Những doanh nghiệp vừa và nhỏ của VN có thể vẫn còn economies of scale về mặt thị trường và khả năng tài chinh, nhưng khả năng quản lý có thể chưa đủ tầm. Quản lý một doanh nghiệp có 20-30 công nhân khác hẳn với một doanh nghiệp có nhân lực gấp 10 lần như vậy.

Thứ hai, để M&A hiệu quả về mặt xã hội (tăng productivity thay vì tăng concentration of power) rất cần sự điều phối của nhà nước. Ở các nước phát triển, M&A luôn phải được regulators phê duyệt dựa trên tiêu chí cơ bản là không làm tăng monopoly power cho doanh nghiệp sau khi M&A. Điều này đòi hỏi hệ thống doanh nghiệp phải rất transparent và regulator phải có năng lực thu thập và phân tích số liệu cho từng industry. Không chỉ government agency chuyên về M&A, hệ thống tòa án kinh tế cũng phải rất có kinh nghiệm về vấn đề này vì (theo anecdotal evidence ở Úc) hơn một nửa số vụ proposed M&A bị regulator từ chối cuối cùng được các bên đưa ra tòa. Nói tóm lại nếu cả hành pháp và tư pháp chưa được chuẩn bị kỹ, có khả năng các hoạt động M&A sẽ dẫn đến tăng monopoly và hậu quả là giảm welfare của toàn xã hội.

Thứ ba, M&A có thể theo chiều ngang (cùng ngành) hay chiều dọc (cùng dây chuyền sản phẩm). M&A chiều ngang có những rủi ro như đã bàn bên trên, M&A theo chiều dọc cũng có thể không có lợi cho nền kinh tế. VN đã từng rất ngưỡng mộ và muốn học tập theo gương các keiretsu của Nhật hay chaelbol của Hàn quốc. Cho đến giờ này, những tập đoàn lớn của VN (Vinashin, EVN, TKV, PVN) càng ngày càng bộc lộ những yếu kém không đáng có. Có thể các conglomerates hình thành sau các vụ M&A chiều dọc của private sector sẽ khá hơn các tập đoàn nhà nước, nhưng chưa có gì đảm bảo họ sẽ có đủ năng lực điều hành và đủ uyển chuyển khi tình hình kinh tế biến động. Nên nhớ too-big-to-fail không chỉ tồn tại trong hệ thống ngân hàng.

Cuối cùng là một nền kinh tế gồm rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn có thể phát triển tốt như Đài loan trước đây, không nhất thiết phải có các đại công ty hay tập đoàn hoành tráng. Tích lũy và tập trung tư bản sẽ diễn ra một cách tự nhiên và hiệu quả, đi sau tích lũy kinh nghiệm và kiên thức quản lý, của cả doanh nghiệp lẫn nhà nước. Tôi luôn nghi ngờ những chính sách "đi tắt đón đầu", nó có thể thành công ở một nước nào đó vào một thời điểm nào đó, nhưng không có nghĩa nó có thể lặp lại, nhất là trong hoàn cảnh hiện tại của VN.


Monday, April 12, 2010

Greece


Fitch vừa giảm credit rating của Hi lạp xuống còn BBB-, lần đầu tiên trong lịch sử rating của các major rating agencies có khoảng cách 4 điểm. Có lẽ Moody và S&P bị nhiều political constraints nên chưa cắt được chứ không phải họ đánh giá credit rating của Hi lạp tốt. Một vài lãnh đạo châu Âu đã "nặng lời" với các rating agencies gần đây nên không loại trừ khả năng Moody và S&P "run tay". [Ngoài lề: Fitch cũng không chịu "nhẹ tay" với VN.]

Ngay sau khi Hi lạp bị cắt credit rating, Đức đã chấp nhận nhượng bộ về mặt lãi suất cho gói cho vay khẩn cấp mà EU sẽ giúp chính phủ Hi lạp. Thông tin mới nhất cho biết gói trợ giúp này sẽ là EUR30b (chứ không phải 25b như báo chí đưa tin trước đây). Đức, vốn cho rằng Hi lạp phải trả lãi suất ngang bằng với lãi suất thị trường (của Greek bonds khoảng 7%), đã chấp nhận dùng công thức của IMF để tính ra con số 5%, coi như chấp nhận một dạng fiscal transfer lần đầu tiên trong lịch sử 10 năm của EMU. Thêm vào đó, vai trò của IMF cũng đã confirmed, các khoản vay của EU sẽ được co-financed từ IMF, có lẽ là hình thức đã chính phủ Merkel giải thích với dân Đức tại sao lãi suất cho Hi lạp vay lại là 5 chứ không phải 7%.

Vấn đề fiscal transfer/fiscal union là điều không thể tránh khỏi trong một currency union, không sớm thì muộn EMU cũng phải thực hiện điều này nếu còn muốn đồng Euro tồn tại. Tuy nhiên như Edward Hugh đã phân tích, thực hiện fiscal transfer lại làm tăng khả năng tan rã EMU từ thái cực khác: dân Đức sẽ kiện chính phủ ra tòa án Hiến pháp vì có khả năng nước này tham gia vào EMU trái với Hiến pháp Đức. Nghĩa là Đức sẽ là nước đầu tiên rút ra khỏi EMU chứ không phải Hi lạp hay một mắt xích yếu nào khác.

Trong khi đó Simon Johnson lại đưa ra khả năng Hi lạp rời bỏ EMU và tuyên bố default. Cựu kinh tế trưởng của IMF cho thấy quan điểm của tổ chức này vẫn luôn "diều hâu": Hi lạp phải chấp nhận liều thuốc đắng như Argentina năm 2001 để có được tương lai như Argentina hiện tại, nghĩa là chấp nhận từ bỏ "chiếu trên" OECD member để trở thành một emerging market. Ý tưởng Hi lạp sẽ default và lặp lại Argentina 2001 được nhiều người tán đồng, duy nhất có Felix Salmon đang "tả xông hữu đột" chống lại ý tưởng này. Salmon, một người có rất nhiều kinh nghiệm với Nam Mỹ, cho rằng trong trường hợp tệ nhất nếu Hi lạp default thì cũng chỉ như Uruguay 2002 hoặc Ecuado 1999/2008, nghĩa là sẽ nhẹ nhàng hơn nhiều Argentina 2001.

Lập luận quan trọng của Salmon là các European banks có exposures với Hi lạp (và PIGS) quá lớn nên EU sẽ không dám mạo hiểm đánh bạc để Hi lạp default, chứ đừng nới gì default và "quịt" 20% nợ nước ngoài như Argentina 2001. Dường như Salmon có lý, hay ít ra market cũng nghiêng về phía Salmon, đồng Euro tăng hơn 3% từ đáy mấy ngày trước sau khi Đức chấp nhận 5% và ECB chấp nhận IMF.

Saturday, April 10, 2010

Readers


Một ngạc nhiên thú vị về số liệu thống kê bạn đọc của kinhtetaichinh trên Alexa: "Based on internet averages, kinhtetaichinh.blogspot.com is visited more frequently by females who are in the age range 18-24 and received some college." Làm thế nào Alexa biết được điều này nhỉ?

Tuy nhiên tôi còn ngạc nhiên hơn khi Google Analytics cho biết trong một tháng qua có 56 visits xuất phát từ minhbien.org ghé thăm blog này. Chắc nhiền bạn đã biết MB bị hacked từ đầu tháng 2, và (các) hacker đã hoàn toàn kiểm soát website MB từ đó tới nay. Vậy hóa ra (các) hacker đó cũng quan tâm đến kinh tế tài chính, hay họ đang theo dõi để hack nốt blog này? Hi vọng câu trả lời là vế đầu :-)

Update: Hóa ra Google Analytics bị lỗi chứ không phải ai đó đang theo dõi blog này từ MB, admin của MB vẫn kiểm soát được server. Tôi hơi bị "cảnh giác" quá độ :-)

Thursday, April 8, 2010

Sophomore


Sau vụ Mankiw bị giới econblog chê bai vì đưa ra một kết luận khá lạc lõng về tax burden của Mỹ, đến lượt Joseph Stiglitz bị Krugman ám chỉ có trình độ kém cả một sophomore (sinh viên năm thứ 2) kinh tế. Stiglitz trong khi lập luận bảo vệ cho TQ về vấn đề undervalued RMB đã nói nâng giá RMB không giải quyết được trade deficit cho Mỹ mà bản thân Mỹ phải cải thiện saving rate. Lập luận này dựa trên đẳng thức (identity) này trong macro: S-I=X-M, nghĩa là current account (X-M) trùng với sự thiếu hụt của domestic saving (S) cho nhu cầu đầu tư trong nước (I). Stiglitz cho rằng nếu người Mỹ không tăng tỷ lệ saving thì dù đồng RMB có tăng giá cũng không làm giảm X-M được.

Krugman vẽ đồ thị dưới đây để chỉ ra sai lầm của Stiglitz. Nếu RMB tăng giá và điều này làm giảm M của Mỹ, GDP sẽ tăng vì M có negative contribution trong GDP kể cả khi các thành phần khác trong GDP (C, I, G, X) không thay đổi. Do vậy ngay cả nếu saving rate không đổi, S cũng sẽ tăng vì S tỷ lệ với GDP, dẫn đến S-I giảm tăng và current account deficit giảm.



Update (9/6): Ryan Avent (Free Exchange) bảo vệ Stiglitz, cho rằng Krugman hiểu sai ý Stiglitz.

Update (15/4): Mankiw lại tiếp tục bị phê phán vì một blog entry bàn về tax.


Zen & Market


Một fund manager nổi tiếng phân tích về
thị trường và kinh tế bằng triết lý của ... Thầy Thích Nhất Hạnh.


Wednesday, April 7, 2010

Gold lending II


Thêm một số random thoughts về vấn đề huy động/cho vay vàng của các NHTM.

- Carry trade: NHNN có thể lo ngại khả năng nhiều nhà đầu tư/đầu cơ sẽ lợi dụng chênh lệch giữa lãi suất VNĐ và lãi suất vàng để thực hiện carry trade: vay vàng, đổi ra VNĐ, deposit với lãi suất cao hơn để kiếm lời. Rủi ro carry unwind xảy ra khi giá vàng tăng đột biến.

- High value transactions: Thường vàng chỉ được sử dụng cho các giao dịch mua bán các tài sản có giá trị lớn (nhà đất, xe cộ), nói chung là durable goods. Như vậy hạn chế gold liquidity sẽ giảm bớt giao dịch những mặt hàng này, nhiều khả năng giảm bớt tốc độ tăng giá durable goods. Tuy nhiên trong ngắn hạn rất có thể một phần VNĐ liquidity sẽ bị rút sang cho những giao dịch này, thành ra cũng có tác dụng giảm inflation cho các non-durable goods.

- Capital: Vàng nhiều khi được coi là "vốn" có thể dùng để đầu tư. Tuy nhiên, ngoại trừ trường hợp vàng được xuất khẩu để đổi lấy ngoại tệ/hàng hóa/dịch vụ từ bên ngoài, việc cho phép huy động/cho vay vàng sẽ không khác gì cho phép huy động/cho vay "đồng hồ Thụy sĩ". Đó chẳng qua là một hình thức gia tăng liquidity cho nền kinh tế, nghĩa là nới lỏng tiền tệ mà NHNN hoàn toàn có thể làm được thông qua VNĐ chứ không nhất thiết phải là vàng hay đồng hồ Thụy sĩ. Do đó nếu muốn huy động vốn trong dân (trong trường hợp này là vàng) thì NHNN phải cho phép tự do xuất nhập khẩu vàng. Còn không NHNN có thể cấm huy động/cho vay vàng và thay gold liquidity bằng VNĐ liquidity (NHNN lợi hơn vì còn thu được seigniorage và nắm được monetary policy như đã nói trong entry trước).

- Transition: Giả sử hiện tại có x% giao dịch trong nền kinh tế thông qua vàng (x là một con số đủ lớn), nếu cấm huy động/cho vay vàng, NHNN phải bù một lượng VNĐ liquidity tương ứng nếu không muốn làm gián đoạn những giao dịch này và gây ra liquidity shock. Do vậy nếu NHNN chuẩn bị cấm giao dịch qua vàng thì có thể dự báo một đợt nới lỏng tiền tệ, vd bơm VNĐ liquidity thông qua OMO.

- Substitution: Nếu nhu cầu vay/cho vay vàng vẫn còn, cấm các NHTM sẽ đẩy hoạt động này ra các tiệm vàng và/hoặc các hoạt động chợ đen khác. NHTM cũng sẽ tìm cách lách luật, vd huy động/cho vay bằng VNĐ nhưng được bảo đảm bằng vàng hoặc bảo đảm lãi suất thực luôn dương. Trong trường hợp này quản lý và giám sát rủi ro sẽ phức tạp hơn, ngược với mục tiêu ban đầu của NHNN.


Austrian critics


Copy cái này lại để dành sau này cãi nhau với bác Đinh Tuấn Minh :-)

"The Austrian school spend so much time arguing over what the true Austrian view is and who are the ‎true forefathers (Rothbard, Mises, etc), that they leave everyone confused about what Austrian economics ‎is all about.‎

I tend to think of Austrian economics as a cult or religion that has splintered into multiple factions over ‎the years. The three common threads between these factions are radicalism, an undying belief that the ‎market fixes everything and an abhorrence of organised economic or political institutionalism of any kind. ‎The third of these three threads is inherently contradictory in that it refuses to acknowledge that the block ‎that capitalist success has been built on, the corporation, is the most fundamental of all institutions and its ‎success is based on a centralised and dictatorial decision making process. The criteria for success that ‎Austrian school members judge themselves by is the distance their views exist from mainstream thought ‎and these criteria have little to offer in terms of workable economic solutions.‎

Austrian economics bemoans, perhaps in some instances justifiably, the centralization of public services ‎that has occurred in developed nations since World War I but refuses to acknowledge that successive ‎electorates have voted in these changes. In their utopian vision of the world a gold-backed money supply ‎would eliminate the business cycle and gold-miners would be immune to the corruptive forces central ‎bankers are exposed to. Their depiction of the central banker as the demonic puppet master at the hands ‎of the base money pump fails to acknowlede that, historically, bank failures have been caused by gold-‎hoarding on the part of the public in times of crisis and a lack of a lender of last resort during financial ‎crises. In the real world central bankers do indeed attempt to control short term interest rates but they are ‎generally guided by the market. The future path of the central bank rate on average does not vary all that ‎much from the market derived yield curve.‎

Business cycles happen. At the top of a business cycle lending gets ahead of itself and when the ‎realization hits that some of these loans can't be paid back, there is a liquidity crunch which usually causes ‎a recession. This happens regardless of whether loans were made as gold or fractional reserve based ‎deposits. The primary difference between central bank controlled fractional reserve lending and gold ‎based lending is that when liquidity crises occur the former has evolved over time to offer backstop ‎solutions to destructive deflationary effects inherent in liquidity crises whereas the latter offers no such ‎solutions.
‎"


Update (8/4): Krugman cho rằng Austrian là self-denial Keynesian.


PMI


Manufacturing PMI (Mar-2010):

- Global: 56.7 (+1.3)
- US: 59.6 (+3.1)
- UK: 57.2 (+0.7)
- EU: 56.6 (+2.4)
- GE: 60.2 (+3.0)
- FR: 56.5 (+1.6)
- IT: 53.7 (+2.1)
- SP: 51.8 (+2.7)
- SD:
- NW:
- SW: 65.5 (+8.1)
- RU: 50.2 (0.0)
- JP: 52.4 (+0.1)
- AU: 50.2 (-3.6)
- CH: 55.1 (+3.1) - CFLP
- CH:
- IN: 57.8 (-0.7)



Carbon footprint


"Animal agriculture...is responsible for 51 per cent of global greenhouse gas emissions – more than everything else combined" (Jonathan Safran Foer). Như vậy ăn chay một lần một tháng chắc sẽ giúp giảm greenhouse gas hơn tắt đèn 1 giờ trong một năm, chưa kể còn giúp giảm cholesterol.