Thursday, February 12, 2009

Role of government


Mark Thoma có một lập luận rất thú vị về role of government. Trong cuộc tranh luận vừa qua về hình thức của fiscal stimulus: tax cut (-T) vs. government spending (+G), Thoma cho rằng đằng sau 2 quan điểm về cách thức stimulus này không phải là sự phân biệt về độ lớn của multiplier mà là quan điểm về role of government.

Nếu cả hai phe -T và +G đều tin vào hiệu quả của fiscal stimulus (có một phe thứ ba không tin vào điều này, Ed Prescott là một ví dụ) thì ảnh hưởng của multiplier không quan trọng. Dù cách này hay cách khác kiểu gì aggregate demand sẽ tăng và sự chênh lệch sẽ không đáng kể. Điểm quan trọng hơn cho cả hai phe này sẽ là kích cở của gói stimulus là bao nhiêu (và tất nhiên cả timing nữa).

Trong khi đó vì fiscal policy luôn bị sticky do các lý do politics nên đi theo -T sẽ có kết quả kích thước và vai trò của chính phủ sẽ giảm dần. Ngược lại +G sẽ làm nhà nước phình to, càng ngày càng lấn át khu vực tư nhân.

Chính sách bù 4% lãi suất của VN có thể liệt kê vào loại chính sách +G. Nó làm vai trò của chính phủ tăng lên qua hai kênh. Thứ nhất là chính phủ sẽ có thể "định hướng" nền kinh tế thông qua lựa chọn lĩnh vực/đối tượng nào sẽ được trợ cấp. Thứ hai là nhiều khả năng các SOEs sẽ được ưu ái vì trong khi private sector lưỡng lự tăng cường đầu tư vào thời điểm kinh tế đi xuống, các SOEs sẽ không ngần ngại "vẽ" ra các dự án vì không lo bị shareholders (nghĩa là nhà nước) khiển trách nếu thua lỗ (soft budget constraint).

Update (02/03): Theo Mankiw, một cuộc khảo sát tại Mỹ cho biết 59% người dân vẫn cho rằng nhà nước là nguyên nhân của những vấn đề phức tạp trong cuộc sống của họ. Chỉ có 28% không đồng ý với nhận định này.


Deflation


Từ sau khi Obama thắng cử Paul Krugman và Greg Mankiw càng ngày càng đối nghịch nhau trên các quan điểm kinh tế (ít nhất là trên blog của họ). Gần đây nhất là cuộc tranh luận liệu Mỹ có rơi vào một vòng xoáy deflation hay không. Krugman cho rằng xác suất deflation rất lớn vì theo dự báo của CBO, US GDP sẽ thấp hơn potential output 6.8%, do vậy inflation sẽ giảm khoảng 3.4%.

Mankiw đáp lại bằng số liệu average hourly earning đã tăng 3.9% trong 12 tháng qua, nếu trừ đi tăng trưởng productivity khoảng 2% thì inflation vẫn còn khoảng 2%, cho nên không có gì phải lo ngại về khả năng deflation.

Krugman phản bác lại số liệu average hourly earning cho rằng thời gian qua các doanh nghiệp có xu hướng sa thải nhân viên có lương thấp (low skilled) nên lương trung bình tăng lên. Nếu dùng số liệu Employment cost index của BLS (đã hiệu chỉnh sự thay đổi về labour skill), thì labor cost chỉ tăng 2% trong 12 tháng qua. Do đó sau khi trừ 2% productivity growth, mức lạm phát hiện tại là 0%, giống với số liệu core inflation trong tháng 1/2009.

Mankiw tiếp tục đưa ra số liệu về nominal bond yield vs. inflation adjusted bond yield. Sau vài tháng giảm mạnh cuối năm 2008, nominal bond yield đã tăng trở lại và hiện đã cao hơn inflation adjusted yield, chứng tỏ expected inflation đã trở lại positive. Chưa thấy Krugman phản bác lại số liệu này nhưng một bài báo của WSJ cho biết Fed sẽ không tiến hành mua Treasuries như Bernanke tuyên bố cách đây vài tháng để "take down (nominal) bond yield". Do đó nominal bond yield tăng có lẽ phản ánh điều này chứ chưa chắc vì market cho rằng inflation sẽ quay trở lại trong năm 2009.


Tuesday, February 10, 2009

Capacity constraint


Còn nhớ hồi đầu năm 2008 một số chuyên gia kinh tế VN cho rằng VN chưa đủ năng lực để hấp thu số vốn FDI quá lớn chảy vào trong năm 2007. Sự quá tải này là một trong những nguyên nhân dẫn đến lạm phát tăng vọt và bong bóng bất động sản/chứng khoán phình to. Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận định này, một nền kinh tế luôn có capacity constraint nên một sự gia tăng đột biến về đầu tư hay tiêu dùng đều gây ra những hiệu quả phụ ngoài mong muốn.

Mấy hôm nay báo chí và dư luận đang rất phẫn nộ về việc xà xẻo và chi sai đối tượng tiền trợ cấp ăn tết cho người nghèo của chính phủ. Những việc làm sai trái này là biểu hiện của tình trạng tham nhũng cố hữu ở VN và cần phải bị trừng phạt. Tôi nghĩ chính phủ đã thiếu sự chuẩn bị và chỉ đạo sát sao để tránh những lỗi lầm như vậy. Giá như đồng thời với việc công bố chính sách hỗ trợ tiền cho người nghèo chính phủ phối hợp với báo chí cảnh báo trước các cán bộ xã, những người sẽ trực tiếp phát số tiền này cho dân, rằng họ sẽ bị trừng phạt rất nặng nếu không đưa đủ và đúng đối tượng. Giá như thay vì những cuộc đi thăm chúc tết rất hình thức, các lãnh đạo Đảng và Nhà nước đến từng địa phương tham gia trực tiếp vào việc lên danh sách hộ nghèo và phát tiền cho dân. Giá như thay vì để các quan xã "ban phát" số tiền này hãy để cho người dân tự lên danh sách và quản lý việc cấp phát ...

Tuy nhiên cũng nên nhìn nhận hiện tượng này trên khía cạnh capacity constraint. Nghĩa là với năng lực hành chính có hạn, một chính sách kinh tế xã hội rộng lớn như vừa rồi chắc chắn sẽ bị méo mó khi thực thi. Ngay cả ở những nước phát triển như Mỹ, Úc, nhiều người đã lên tiếng cảnh báo hệ thống hành chính hiện tại sẽ không đủ năng lực để quản lý một lượng tiền kích cầu quá lớn. Cho nên khi thiết kế các chính sách kích cầu, ngoài việc cân nhắc các yếu tố kinh tế như multiplier hay impact delay, còn phải xem xét đến năng lực thực hiện nữa.

Nói như vậy để thấy số tiền 420,000 tỷ đồng mà chính phủ hi vọng sẽ được bơm vào nền kinh tế thông qua chính sách hỗ trợ 4% lãi suất có thể sẽ là quá lớn với capacity constraint của cả nền kinh tế và hệ thống hành chính, chưa cần biết tính đúng sai của chính sách này.

Update (19/03): Tác giả này cho rằng cuộc khủng hoảng xảy ra vì các regulation hiện hữu không được enforced đầy đủ (capacity constraints) chứ không phải vì thiếu regulation.


Politics VII


Hôm nay Tim Geithner sẽ công bố kế hoạch giải cứu của mình mà mấy ngày nay giới tài chính đã gán cho cái tên "Bad bank plan". Tuy nhiên CNBC vừa cho biết nhiều khả năng "bad bank" sẽ bị loại bỏ khỏi kế hoạch này. Về cơ bản, ý tưởng "bad bank" của Geithner có mục đích giống như những gì Herry Paulson đã định làm khi đề ra TARP vào cuối tháng 9/2008. Nghĩa là làm sạch balance sheets của các ngân hàng và tổ chức tài chính bằng cách dùng taxpayers' money mua lại toxic assets của các ngân hàng đó. Nói đơn giản theo ngôn ngữ VN là "giải quyết nợ xấu" cho các ngân hàng.

Không phải đến tháng 9/2008 Paulson mới nhận ra vấn đề này, kinh nghiệm của Nhật thập kỷ 90 cho thấy cùng với capital injection, giải quyết nợ xấu hay "toxic assets" là điều kiện tiên quyết để khôi phục lại hoạt động của hệ thống tài chính. Bài viết này của Kobayashi Keiichiro từ tháng 3/2008 đã dự báo rất chính xác những gì sẽ xảy ra khi toxic assets vẫn còn nằm trong balance sheets của các ngân hàng. Các ngân hàng không chịu bán ra số toxic assets này vì hai lý do: sẽ bị phá sản vì số lỗ vượt quá equity và họ hi vọng giá của những assets này sẽ phục hồi khi thị trường ổn định.

Ban đầu Paulson dự định mua lại số toxic assets này với giá cao hơn giá thị trường để cùng lúc giải quyết cả hai vấn đề nêu trên. Tuy nhiên nhiều lý do politics đã ngăn Paulson không thực hiện ý tưởng toxic asset buying mà chuyển sang capital injection. Việc bơm tiền vào hệ thống ngân hàng là cần thiết như kinh nghiệm của Nhật và Sweden cho thấy. Ngoài ra Paulson hi vọng khi có thêm capital, các ngân hàng sẽ chấp nhận thanh lý số nợ xấu của mình với giá thị trường lúc đó. Tuy nhiên thực tế đã không diễn ra như Paulson mong muốn và Geithner lại phải quay lại với ý tưởng toxic asset buying qua hình thức bad bank. Bây giờ có vẻ Geithner lại tiếp tục là nạn nhân của politics.

Hiển nhiên dùng tiền của taxpayers để mua toxic assets với giá cao hơn giá thị trường sẽ khó được cả public lẫn politicians chấp nhận cho dù nó sẽ giải quyết được cuộc khủng hoảng. Trong khi đó capital injection với government ownership cộng với các điều kiện khác như executive pay cap dễ được chấp nhận hơn. Nhưng capital injection chỉ có hiệu quả nếu nó tương đương với khoản lỗ mà các ngân hàng phải gánh chịu, hiên giờ đã xấp xỉ $1 trillion và có thể sẽ lên đến $2-3 trillions. Nếu vậy capital injection sẽ tương đương với nationalization hệ thống ngân hàng, cũng khó có thể được một xã hội như Mỹ chấp nhận.

Do vậy, cuối cùng có lẽ Geithner cũng phải quay về với toxic asset buying dù dưới hình thức này hay hình thức khác. Hoặc nếu toxic assets chủ yếu bao gồm các khoản nợ bất động sản thì những chính sách kích thích giá nhà đất như giảm mortgage rate hay tax rebate cho homebuyers có thể sẽ phụ hồi dần giá trị của các assets này. Nhưng cách giải quyết này sẽ rất mất thời gian và đằng nào cũng phải tiêu tốn taxpayers money, chỉ khác khác là số tiền giải cứu này thay vì chảy vào túi bankers thì sẽ chảy vào túi homeowners.

Update (11/02): Sau khi Geithner công bố kế hoạch bình ổ thị trường của mình, DJ mất 5%. Nội dung chính của kế hoạch này gồm 4 điểm: (i) recapitalize hệ thống ngân hàng; (ii) lập public-private investment funds (PPIF) để mua lại toxic assets từ các ngân hàng; (iii) phối hợp với Fed mở rộng TALF lên đến $1 trillion để support cho consumer/buisiness lending; (iv) $50b support cho mortgage payments. Trong 4 điểm này (i) và (iii) không có gì mới, (iv) quá nhỏ, còn (ii) là cách Geithner mập mờ việc thành lập "bad bank", có điều không nói trắng ra. Vì  PPIF chưa được công bố chi tiết nên market vẫn coi như vấn đề toxic assets vẫn chưa được giải quyết.




Update (12/02): Làm một nhà kinh tế dễ hơn một nhà chính trị, ít nhất theo quan điểm của Milton Friedman (từ blog Mankiw) vì nhà kinh tế có thể đưa ra những chính sách impractical về mặt politics: "The role of the economist in discussions of public policy seems to me to be to prescribe what should be done in light of what can be done, politics aside, and not to predict what is "politically feasible" and then to recommend it."


Monday, February 9, 2009

Monetary vs fiscal


Tôi vừa được đọc một bài phân tích chính sách kích cầu của VN của tác giả Nguyễn Ngọc Anh (DEPOCEN) và một số người khác. Các tác giả bài viết này có một lưu ý là VN hiện vẫn chưa sử dụng hết công cụ tiền tệ để kích thích kinh tế, nghĩa là vẫn còn khả năng cắt giảm lãi suất nữa. Không chỉ ở VN, Nick Rowe cho rằng hầu hết các nước trên thế giới (trừ Mỹ và Nhật) vẫn còn khả năng tiếp tục ease monetary policy trước khi phải dùng đến fiscal stimulus. Rowe nghi ngờ rằng Mỹ có thể đã "lobby" ngầm để các nước dùng fiscal stimulus và giữ lãi suất dương giúp cho đồng USD có thể giảm giá.


Pre-mortem analysis


Nếu bạn để ý đến câu nói của Keynes tôi trích dẫn trên phần header của blog này, chắc bạn sẽ đồng ý với David Ignatius (WP) rằng chính Keynes là godfarther của behavioral economics. Tuy nhiên điểm thú vị nhất trong bài báo của Ignatius là khái niệm pre-mortem analysis đã được Daniel Kahneman, người đã được Nobel về behavioral economics, đưa vào kinh tế từ ý tưởng của một nhà tâm lý học (Gary Klein). Theo Ignatius, pre-mortem analysis đã được nhắc đến khá nhiều trên diễn đàn WEF ở Davos vừa rồi.

Vậy pre-mortem analysis là gì? Đơn giản đó là một hình thức stress-test cho logic của những người làm dự án/chính sách. Sau khi lên xong kế hoạch cho một dự án, nếu chúng ta giả sử dự án đó sẽ thất bại trong tương lai và viết một bản phân tích những lý do dẫn đến thất bại đó (pre-mortem), rất có thể chúng ta sẽ tìm ra những "black swans" mà khi lập dự án chúng ta không tính tới.


Timing


Sáng nay đọc bài này của WP từ link trên web của bác Trần Hữu Dũng, thấm thía nhất câu này: "Many economists say the precise size and shape of the package developing in Congress matter less than the timing, and that any delay is damaging."

Nói về vấn đề timing, báo Thanh niên sáng nay cho biết nhà máy lọc dầu Dung quất chuẩn bị sản xuất thương mại ngày 22/2 tới, sớm hơn 3 ngày so với dự kiến. Có điều những ai đã từng liên quan đến dự án nhà máy lọc dầu đầu tiên của VN thời điểm những năm 94-95 chắc sẽ không thể hãnh diện về 3 ngày sớm hơn kế hoạch đó. Thực tế nếu Petrovietnam không khăng khăng đòi dời nhà máy khỏi Vũng tàu (và sau này là Long hải) ra Dung quất theo chỉ đạo của chính phủ thì liên doanh lọc dầu với Total (Pháp) đã có thể sản xuất thương mại từ năm 1999. Nếu nhà máy lọc dầu đó được xây dựng, lợi nhuận của nó từ đó đến nay chắc đã đủ để xây thêm 1-2 nhà máy lọc dầu nữa ở bất kỳ đâu Petrovietnam muốn.

Tất cả các sinh viên kinh tế đều biết khái niệm opportunity cost, thậm chí kể cả chưa học kinh tế bao giờ nhưng mọi người dân VN cũng biết "thời gian là tiền bạc". Bác Trần Hữu Dũng đang rất sốt ruột vì gói kích cầu của VN vẫn chưa được triển khai triệt để. Bài học timing của nhà máy lọc dầu Dung quất 10 năm trước vẫn còn đó, và bài học từ gói kích cầu của Mỹ vẫn còn đang nóng hổi.


PMI


Manufacturing PMI (Jan-09):

- US (ISM): 35.6 (+2.7)
- EU: 34.4 (+0.5)
- UK: 35.8 (+0.9)
- GE: 32.0 (-0.7)
- IT: 36.1 (+0.6)
- FR: 37.9 (+3)
- SD (Swedbank): 33.8 (2.9)
- NW: 40.8 (0.0)
- DM: 29.7 (-10.7)
- JP (Nomura/JMMA): 29.6 (-1.2)
- AU: 36.6 (+2.9)
- CH: 45.3 (+4.1)



Sunday, February 8, 2009

Random thoughts


Một vài suy nghĩ sau những ngày về VN ăn tết:

1. Tôi không quen ai làm việc trong lĩnh vực xuất nhập khẩu nhưng chỉ nhìn cảnh mua sắm ngày tết có thể thấy kinh tế VN đã bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. Một vài người lái taxi, chủ nhà hàng, shop bán lẻ mà tôi có dịp nói chuyện đều cho rằng sức mua tết năm nay giảm hơn mọi năm. Những "anecdotal evidences" nhiều khi khá quan trọng và "cập nhật" hơn số liệu thống kê chính thức. Gần như hàng tháng Fed có ra một bản báo cáo gọi là Beige Book thu thập các evidences như vậy. Hi vọng sẽ có một tổ chức của VN làm điều này trong tương lai.

2. Một người bạn nói với tôi cách đây 1 năm thời gian đi từ Q7 sang Q3 đủ để anh ấy đọc hết một tờ báo, còn bây giờ thừa đủ đọc được 2 tờ. Cá nhân tôi thấy giao thông ở TPHCM đã tệ đi rõ rệt, thời gian di chuyển một khoảng cách 8-10km vào giờ cao điểm đã dài hơn trước kia ít nhất 1 tiếng (tôi mất 2 tiếng đi từ Q3 ra sân bay TSN, 1.5 tiếng từ Q7 đến Bình thạnh). Nếu đây là tình trạng chung cho cư dân thành phố thì opportunity costs sẽ rất lớn.

Theo Wikipedia tiếng Việt, dân số TPHCM hơn 8 triệu người, còn theo bài báo này của Nhân dân GDP/đầu người năm 2008 là $2500. Nếu giả sử 50% dân số thành phố (4 triệu) tham gia vào các hoạt động kinh tế và có thu nhập trung bình $5000/năm, giả sử họ làm việc 250 ngày/năm mỗi ngày làm việc 10 tiếng, thì thu nhập bình quân của một người lao động ở TPHCM vào khoảng $2/giờ. Nếu mỗi người mỗi ngày mất thêm 1 giờ giao thông trên đường, tổng số opportunity costs của họ cho 250 ngày lao động một năm vào khoảng $2 tỷ. Tổng GDP của thành phố năm 2008 vào khoảng $17 tỷ nên số opportunity costs $2 tỷ bằng khoảng 11.6% GDP. Đấy là chưa kể tai nạn giao thông và ảnh hưởng đến sức khỏe vì phải hít không khí ô nhiễm.

3. Quê nội tôi ở Điện bàn, Quảng nam. Khi về thăm quê mấy ngày trước tết, một người bà con kể rằng một công ty của Hàn quốc đã xây dựng một nhà máy chế biến cá khô trên bờ sông Thu bồn cạnh đó. Họ thuê nhân công với mức lương 30,000 đồng/ngày làm việc trong nhà máy, chưa đến $2/ngày. Điều đáng nói không chỉ là số tiền công rẻ mạt này, mà đã có nhiều cuộc đình công đòi tăng lương xảy ra nhưng đều thất bại vì labor supply ở vùng quê nghèo này luôn luôn thừa thãi nên giới chủ có thể thay toàn bộ công nhân của nhà máy dễ dàng. Với marginal cost of labor thấp và non-increasing như vậy chắc chắn những ông chủ Hàn quốc đã thu được lợi nhuận rất lớn vì marginal product of capital phải rất cao. Vậy tại sao các doanh nghiệp VN không đầu tư vào tỉnh này? Họ thiếu vốn hay tại chính sách/cán bộ của tỉnh Quảng nam có vấn đề?

4. Quê vợ tôi ở Bến tre và Tết này gia đình tôi đã tiết kiệm được 1-2 tiếng về quê vì cầu Rạch Miễu đã thông xe hơn một tuần trước Tết. Quả thật cây cầu này là một bước phát triển quan trọng cho kinh tế xã hội của Bến tre, một trong những tỉnh nghèo nhất miền Tây Nam bộ. Theo tôi cây cầu được thiết kế khá đẹp nhưng có 2 điểm bất hợp lý. Thứ nhất là mặt cầu quá hẹp nên rất dễ bị ùn tắc giao thông nếu có tai nạn xảy ra trên cầu. Thứ hai là cây cầu đáng ra không nên chia làm hai phần có chân chung đổ xuống cồn Phụng vì dễ xảy ra ùn tắc nếu có xe rẽ trái ở điểm giao nhau này. Giải thích cho việc thiết kế mặt cầu hẹp, ông Phạm Văn Long - Giám đốc Sở GTVT Bến tre - nói rằng do kinh phí có hạn và đã được thiết kế từ năm 1998 nên không lường trước được mật độ giao thông ngày nay. Tôi nhớ rằng mặt cầu Long biên cũng khá hẹp nhưng cách một đoạn mặt cầu lại được làm phình to ra để xe cộ có thể tránh nhau và làm khu vực cứu nạn. Vậy tại sao các nhà thiết kế cầu Rạch Miễu không học được Gustave Eiffel sau hơn 100 năm? Hay họ dự định sẽ xây Rạch Miễu 2 song song với Rạch Miễu 1 như đã làm với cầu Bình triệu, Tân thuận?

5. Tôi có thói quen lướt qua mục "In the news" của Wikipedia (my homepage) hàng ngày vì tôi nghĩ những tin tức đưa lên đây là những tin đặc biệt quan trọng. Có điều gần đây tôi để ý những tin tức về VN đưa lên mục này đa phần là tin xấu như bão lụt, bệnh dịch, tai nạn. Và sáng 30 tết cũng không là ngoại lệ. Thôi, dù cho những cây cầu của VN có chật hẹp hay không hợp lý, mong sao người dân Quang Hải, Quảng Bình sẽ sớm có một cây cầu như cầu Rạch Miễu. Và cả những vùng quê sông nước khác cũng vậy.


Back to work


"I wish it'd be longer" luôn là câu cửa miệng của các holiday takers khi kỳ nghỉ kết thúc, tôi cũng không phải ngoại lệ. Với người VN, một kỳ nghỉ vào dịp Tết Nguyên đán còn có ý nghĩa hơn nhiều, nhất là nếu đã lâu bạn không được ăn Tết ở quê hương. So với bánh, mứt, đào, mai thì những S&P, AUD, Ted spread quả là khó nuốt. Nhưng biết làm sao được, all good things must have an end. Hơn nữa năm Kỷ Sửu này chắc không phải chỉ mình tôi sẽ phải "cầy bừa" như trâu. Hi vọng năm nay mọi việc sẽ kết thúc tốt đẹp.