Wednesday, November 24, 2010

Zero debt


Tiếng Việt có câu "bút sa gà chết", thời buổi Internet bây giờ chắc phải đổi thành "bấm nút publish/send là chết" :-). Số là cách đây mấy tháng Paul Krugman và Stephen Williamson "nặng lời" với nhau (xem phần links của tôi trong tháng 8) về một bài phát biểu của Kocherlakota. Có vẻ Williamson vẫn còn "tư thù" với Krugman từ dạo đó nên ngay khi Krugman và Eggertson giới thiệu một mô hình debt-deflation mới (xem link tháng này), Williamson mắc phải một sai lầm nghiêm trọng là vội vã bấm nút publish một bài viết phê phán mô hình Krugman-Eggertson trước khi đọc cẩn thận paper của hai tác giả nói trên. Dù Williamson đã xóa ngay bài viết này và thay bằng một bài review rất neutral, bài phê bình đầu tiên so sánh Krugman/Eggertson với các sinh viên của mình đã được các thể loại web-catch/RSS-aggregators lưu lại.

Ở đây tôi không muốn nói về mô hình Krugman-Eggertson, bạn nào quan tâm có thể đọc trực tiếp paper của họ hoặc đọc các bài review của Williamson, Nick Rowe, Karl Smith, WSJ, hay của chính Krugman. Tôi muốn nhấn mạnh đến sai lầm của Williamson trong bài viết đã bị xóa vì đây là điều nhiều người mắc phải. Sai lầm của Williamson là vội vã kết luận Krugman/Eggertson sai khi cho rằng trong dài hạn không ai có thể nợ nần người khác (no positive debts in steady state). Điều này thoạt nhìn có vẻ phù hợp với common sense, bạn chỉ có thể vay nợ trong ngắn hạn rồi kiểu gì cũng phải trả số nợ đó trong tương lai. Không ai cho bạn vay nếu bạn tuyên bố sẽ tiếp tục nợ nần vĩnh viễn (mô hình của Krugman/Eggertson và nhiều mô hình kinh tế khác có giả thiết các agents trong mô hình tồn tại vĩnh viễn).

Từ ý tưởng này, nhiều người (nhất là các ultra-right wing politicians) cổ vũ cho zero-government debt, thậm chí trong ngắn hạn. Lập luận của họ là nếu bạn không muốn bị nợ nần thì bạn cũng mong muốn đất nước của bạn không nợ ai, xét cho cùng public debt chính là liability của mọi công dân, hiện tại cũng như tương lai. Tôi không muốn bàn về mặt chính trị của những lời kêu gọi này, xét trên khía cạnh kinh tế, zero-debt policy không phải là chính sách tối ưu cho một nền kinh tế. Tyler Cowen trước đây có viết một list các nguyên tắc mà đa số các nhà kinh tế tán thành, trong đó non-zero-debt policy được xếp ngang hàng với free trade và public goods. Thực tế đã có những nhà kinh tế nghiên cứu về optimum debt/deficit level cho một nền kinh tế (eg Peter Diamond's dynamic efficiency). Sau đây là một số lý do phản bác lại zero debt policy.

Trước hết, đa số mọi người đồng ý rằng một công ty nếu chỉ sử dụng vốn tự có (equity) của mình mà không vay nợ thì cơ cấu vốn của công ty đó không tối ưu. Không chỉ trong ngắn hạn, ngay cả nếu công ty đó tồn tại vĩnh viễn, một tỷ lệ debt/equity hợp lý sẽ làm tăng giá trị của công ty vì cùng một ROA công ty đó sẽ có ROE cao hơn (leverage effect). Modigliani-Miller theorem không đúng trên thực tế vì thuế, uncertainty, asymmetric information..., cho nên tài trợ kinh doanh bằng debt lợi hơn bằng equity (xét theo cost of capital) trong một giới hạn debt/equity nhất định. Tất nhiên một công ty hoàn toàn có thể chỉ dựa vào equity của mình để phát triển, nhưng công ty đó rất dễ trở thành mục tiêu cho các competitors thôn tín.

Ngay cả nếu không xét đến ảnh hưởng của thuế và các yếu tố khác, optimum capital structure của một công ty, hay xét rộng ra một industry/economy, cũng cần phải có debt. Điều này đơn giản vì debt chỉ là mặt trái của saving (tạm thời bỏ qua foreign capital flows). Đối diện với uncertainty, các cá nhân trong một nền kinh tế cần phải có saving (ở các giai đoạn khác nhau trong cuộc đời). Saving chỉ có thể xảy ra nếu có counterparty là borrowers (trong mô hình Krugman-Eggertson là những impatient agents). Trong dài hạn debt vẫn có thể tồn tại nếu một nhóm người có nhu cầu saving cao hơn các nhóm còn lại vì họ nhận được utility từ cảm giác an toàn do có positive saving (họ có risk aversion cao hơn). Nếu net saving của các cá nhân positive thì debtors hiển nhiên sẽ là những agent còn lại trong nền kinh tế (công ty, nhà nước). Ngay cả trong trường hợp M&M theorem đúng, demand/supply của loanable funds sẽ làm cost of debt rẻ hơn cost of equity và các công ty sẽ có positive debt trong dài hạn.

Nếu coi chính phủ là một công ty cung cấp public goods cho dân chúng, công ty này có revenue hàng năm từ tax và có thể xây dựng capital structure bằng equity (thông qua retained earning, trong trường hợp của chính phủ là budget surplus) và debt. Một CFO giỏi sẽ không bao giờ chấp nhận zero debt nếu cost of debt rẻ hơn cost of equity. Thông thường cost of debt cho nhà nước rẻ hơn cho các công ty tư nhân (government bonds có yield thấp hơn corporate bonds), trong khi cost of equity lại cao hơn. Sở dĩ cost of equity của chính phủ cao hơn của private sector vì chính phủ chỉ có thể "huy động" equity thông qua tăng thuế, điều này có giới hạn nhất định (Laffer curve) và có negative impact đến nền kinh tế (deadweight loss). Tất nhiên cost of debt không phải lúc nào cũng thấp nếu debt vượt quá một giới hạn cho phép, tuy nhiên nếu private sector có optimum non-zero debt thì tại sao chính phủ lại phải tuân theo zero debt policy?

Một câu trả lời thường gặp cho câu hỏi này là inter-generation equity, nói nôm na là thế hệ hiện tại không được để lại gánh nặng nợ nần cho thế hệ tương lai. Điều này đúng nhưng cần phân biệt "gánh nặng nợ nần" với optimum debt. Tương tự như một công ty, nếu chính phủ có tỷ lệ debt/equity hợp lý thì tăng trưởng kinh tế sẽ tốt hơn và điều này sẽ có lợi cho các thế hệ tương lai hơn. Vay nợ để có cơ sở hạ tầng tốt, y tế/giáo dục tốt là cách để các nền kinh tế thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn: nghèo dẫn đến thiếu vốn, và ngược lại thiếu vốn nên nghèo. Public debt chỉ trở thành gánh nặng cho các thế hệ tương lai nếu nó được sử dụng không hiệu quả (vd ICOR hiện tại cao) và/hoặc bị thất thoát vì tham nhũng, lãng phí.

Đây là câu trả lời thứ hai của những người ủng hộ zero public debt. Họ lập luận rằng chính phủ luôn tham nhũng và bất tài nên tốt nhất phải hạn chế chính phủ vay nợ, coi như một second best solution. Tôi đồng ý với lập luận này, ít nhất trong trường hợp VN khi chính phủ đi vay để làm đường sắt cao tốc hay tài trợ cho Vinashin, tuy nhiên "hạn chế chính phủ vay nợ", không đồng nghĩa với zero debt. Theo tôi cách hạn chế tốt hơn là thay vì hạn chế số nợ (tính theo %GDP) nên hạn chế interest payment tối đa, nghĩa là nếu một chính phủ được thị trường đánh giá tốt nên đồng ý cho vay lãi suất thấp thì giới hạn nợ của chính phủ đó phải được nới rộng hơn các trường hợp phải vay với lãi suất cao. Ngoài ra việc chấp nhận second best chỉ được coi là tạm thời, về lâu dài phải giải quyết triệt để gốc rễ vấn đề là political corruption chứ không phải public debt.

Trong ngắn hạn, zero debt policy càng khó có thể chấp nhận. Khi kinh tế biến động, dù là lỗi của chính phủ hay không, việc áp đặt zero debt constraint sẽ buộc chính phủ phải cắt giảm chi tiêu thường xuyên (chứ đừng nói gì đến kích cầu hay borrower of last resort như các Keynesians kêu gọi), do vậy sẽ ảnh hưởng đến điều kiện sống hiện tại của dân chúng cũng như tương lai tăng trưởng của nền kinh tế. Rất nhiều tiểu bang Mỹ có luật cấm chính phủ tiểu bang không được có budget deficit, điều này đã gây ảnh hưởng nặng nề đến các dịch vụ công của chính phủ tiểu bang (cắt giảm giáo dục, police) trong 2 năm khủng hoảng vừa qua. Còn may là các tiểu bang của Mỹ đã được chính phủ liên bang rót tiền trợ giúp, nếu chính phủ liên bang cũng phải tuân theo zero debt policy như vậy chắc chắn mức độ ảnh hưởng sẽ lớn hơn nhiều.

Hồi cuối nhiệm kỳ thứ hai của Clinton, Mỹ có thặng dư ngân sách và một số nhà kinh tế (trong đó có Greenspan) yêu cầu dùng số tiền thặng dư mua lại government bonds để giảm debt. Ở Úc dưới thời John Howard cũng vậy, chính phủ liên bang đã tìm cách mua lại government bonds vì có thặng dư ngân sách khá lớn. Tuy nhiên sau khi chính phủ mua bonds (giảm public debt) một thời gian thì Bộ Tài chính (Treasury) phải phát hành bonds trở lại vì lượng government bonds quá ít đã gây cản trở cho hoạt động bình thường của thị trường tài chính. Ngoài việc government bonds là benchmark cho private bonds (thường được quote theo spread với government bond yield) và cho thị trường derivatives, rất nhiều quĩ đầu tư, quĩ hưu trí buộc phải có một tỷ lệ government bonds nhất định. Bởi vậy government bond supply giảm đã gây khó khăn cho những quĩ này, buộc họ phải nâng giá (giảm yield) để cạnh tranh. Hậu quả là thị trường vốn bị méo mó, lãi suất tụt xuống quá thấp bất chấp chính sách tiền tệ. Sự kiện này cho thấy nợ chính phủ (chính xác hơn là thị trường government bond) có một vai trò phụ khá quan trọng bên cạnh là nguồn cung ứng vốn cho chính phủ. Zero debt policy sẽ xóa sổ thị trường này và sẽ có những ảnh hưởng khó lường lên thị trường tài chính. Tất nhiên sẽ có người nói thị trường tài chính hiện tại cũng cần phải cải tổ, biết đâu sau này nó sẽ không cần government bond benchmark nữa? Điều này có thể xảy ra, nhưng hãy để cho thị trường quyết định chứ không phải các chính trị gia hô hào zero debt.


Monday, November 15, 2010

Coupon rate


Từ trước tới giờ tôi vẫn nghĩ những institution lớn, vd bộ Tài chính các nước, khi phát hành bonds có thể lựa chọn coupon rate theo mặc định truyền thống. Như đã đề cập đến trước đây, với bonds, coupon rate thực ra không quan trọng mà yield (hay YTM) mới có ý nghĩa. Hiện tại Sydney Futures Exchange (SFE) có 10-year government bond futures contract qui định giá của futures contract đó được tính theo một hypothetical bond, có coupon là 6%/năm. Do vậy trên thị trường Úc vài năm trước, con số 6% khá sticky vì nó liên quan đến futures contract, nếu government thay đổi coupon rate khỏi 6% thì công thức tính futures price sẽ phức tạp hơn.

Trên thị trường corporate bonds của Úc và Mỹ có một qui luật bất thành văn là khi phát hành bond coupon rate phải được qui định rất gần với yield, có lẽ lý do là để initial price bằng với face (par) value giúp đơn giản hóa cho sổ sách kế toán của cả người phát hành bonds lẫn investors. Tôi không rõ điều này quan trọng đến mức nào nhưng có lẽ nhiều investors ngầm định nó nên ngay cả government bonds cũng dần dần tuân theo qui luật này. Gần đây coupon rate của Úc đã dao động khá nhiều và không còn giữ mức 6% nữa khi lãi suất của Úc giảm mạnh cùng với các nước khác trong giai đoạn 2008-2009.

Khác với Úc, coupon rate của US government bond không do auctioner qui định mà do thị trường quyết định. NY Fed, nơi được US Treasury ủy quyền đấu thầu government bonds, có một tài liệu giới thiệu chi tiết quá trình đấu thầu. Trong đó ghi rõ coupon rate được chọn sau mỗi phiên đấu thầu sao cho initial price gần với par value nhất (nhưng không lớn hơn par). Sai số giữa yield và coupon rate phải là multiple của 1/8 phần trăm (0.125%), có nghĩa là yield sẽ rất gần với coupon rate. Có một ngoại lệ là nếu đợt phát hành bond được reopen thì coupon sẽ bằng coupon của lần phát hành trước đây.

Như vậy một số entry tôi viết trước đây không chính xác khi cho rằng nhà phát hành bonds có thể chọn coupon rates để thay đổi duration của bonds và ảnh hưởng lên yield. Entry này là một lời đính chính và xin lỗi các bạn vì đã đưa tin không chính xác. Chắc tương lai còn nhiều đính chính tương tự :-(


Wednesday, November 10, 2010

Gold ETF


Trong khi tôi vẫn cho rằng phát hành TIPS và tạo liquidity cho thị trường này là giải pháp dài hạn cho tình trạng vàng/đô la hóa của nền kinh tế, trước mắt SBV và SSC có thể chữa cháy cho những cơn sốt vàng của VN bằng cách cho phép mở một Gold ETF trên sàn chứng khoán VN. ETF - Exchange Traded Fund, là một quĩ đầu tư mở có cổ phần được giao dịch tự do trên sàn chứng khoán. Gold ETF có một mục tiêu duy nhất là đảm bảo giá trị của quĩ (NAV) tăng lên/giảm xuống đúng bằng giá vàng (nguyên tắc của index fund), do đó giá cổ phiếu của ETF cũng tăng/giảm theo giá vàng. Nếu nhu cầu cổ phiếu tăng quá mạnh thì ETF manager/trustee sẽ phát hành thêm cổ phiếu (tăng NAV). Để đảm bảo NAV tăng giảm theo giá vàng, các gold ETF thường mua vàng physical và/hoặc mua gold derivatives (mua bán paper gold trên các sàn vàng cũng là một dạng gold derivatives).

Có 2 lợi ích của việc mở gold ETF so với nhập vàng physical về bán cho dân. Thứ nhất ETF có thể (nếu được SBV/SSC đồng ý), tham gia các sàn vàng quốc tế và/hoặc mua bán gold futures để đảm bảo NAV tăng/giảm đúng theo giá vàng mà không nhất thiết phải mua vàng physical. Lượng ngoại tệ chuyển ra ngoài để mua paper gold/gold futures nhỏ hơn rất nhiều so với NAV vì có thể leverage, do vậy giảm bớt sức ép lên thị trường ngoại hối. Số physical gold của ETF này sẽ có vai trò như một quĩ bình ổn vàng hoạt động song song với dự trữ vàng của SBV, giảm bớt gánh nặng bình ổn cho SBV. Thứ hai, share của ETF được giao dịch trên thị trường chứng khoán, nhiều khả năng sẽ có khối lượng giao dịch lớn, nên sẽ tránh bị manipulate như trong trường hợp giá vàng trên thị trường tự do. Nhà đầu tư mua/bán ETF share sẽ chỉ quan tâm đến giá vàng thế giới chứ không lo lắng về tình hình giá vàng trong nước. Nhiều khả năng giá vàng trong nước sẽ gần với giá vàng quốc tế hơn vì hai thị trường này sẽ liên thông gián tiếp qua gold ETF (các tiệm vàng sẽ tham gia mua/bán ETF share). Các giao dịch được thực hiện trên thị trường chứng khoán nên sẽ loại bỏ nhiều loại rủi ro cho nhà đầu tư (vàng giả, bị trộm cắp, làm giá...).

ETF này có thể sẽ được một vài "đại gia" trong giới vàng bạc (SJC, PNJ) và một số ngân hàng lớn góp vốn ban đầu (seed money). Nếu chính phủ cho rằng bình ổn thị trường vàng là một nhiệm vụ quan trọng có thể giao cho SCIC tham gia. SSC/HOSE có thể duyệt dự án này nhanh chóng và cho listed thật nhanh. Nếu cần thiết có thể thuê các gold ETF managers đang hoạt động trên thế giới điều hành trong thời gian đầu, thậm chí mời họ tham gia góp vốn. Trong tương lai, SSC/HOSE có thể cho phép các institutions mở thêm 1-2 gold ETF khác nếu nhu cầu thị trường quá lớn.

Cho phép mở gold ETF sẽ là cách để SBV "đảo ngược" lại quyết định đóng cửa các sàn vàng của mình hồi đầu năm mà không ảnh hưởng nhiều đến credibility.

Update (12/11): Một bài viết rất hay về hoạt động của GLD, một gold ETF của Mỹ

Update (01/12): TQ đã đi trước VN, vừa cho phép mở một gold ETF trong nước bằng cách đầu tư thông qua các gold ETF ở bên ngoài.

Update (21/12): BIDV đã đề xuất mở một sàn giao dịch vàng do nhà nước (NHNN) quản lý. Về cơ bản đây không khác gì một gold ETF, đều là cách để nhà đầu tư trong nước có thể dễ dàng mua bán (chứng chỉ) vàng mà không nhất thiết phải có một lượng physical gold xuất/nhập qua biên giới kèm theo một lượng USD chảy theo chiều ngược lại. Gold ETF có thuận lợi là có thể triển khai nhanh dựa trên thị trường chứng khoán và hệ thống stock broker hiện tại. Sàn giao dịch vàng, nếu mở theo đề xuất của BIDV, có ưu thế là nhà nước có thể kiểm soát chặt hơn và dễ can thiệp hơn. Như tôi nói bên trên, cả hai cách này đều là đảo ngược lại quyết định đóng cửa các sàn vàng tư nhân hồi đầu năm.


Friday, November 5, 2010

TIPS


TIPS - Treasury Inflation Protected Securities - là trái phiếu chính phủ Mỹ phát hành có đặc điểm face value và coupon được điều chỉnh theo lạm phát (cụ thể là CPI). Nhiều nước cũng phát hành loại trái phiếu này, có nước gọi là inflation linked bonds hoặc indexed bonds. Nguyên tắc của loại trái phiếu này rất đơn giản, vào thời điểm phát hành người ta ghi nhận giá trị của CPI ở thời điểm đó và sau đó hàng năm hiệu chỉnh mệnh giá theo giá trị CPI cuối cùng. Ví dụ nếu CPI ban đầu là 100, một năm sau CPI tăng lên 108, nghĩa là lạm phát sau 1 năm là 8%, thì mệnh giá của TIPS được tăng lên 8% và coupon được tính theo mệnh giá mới.

Đến đây chắc các bạn đã đoán ra tôi định nói điều gì. Vâng, theo tôi chính phủ VN nên nhanh chóng nghiên cứu phát hành TIPS trên thị trường nội địa bởi 2 lý do. Thứ nhất đó là cách để những người dân bình thường có thể bảo toàn những khoảng tiết kiệm của họ cho tương lai. Cho dù giá vàng, giá đô la có biến động thế nào chăng nữa, nếu bạn đầu tư vào TIPS thì ít nhất bạn sẽ yên tâm số tiền của mình sẽ giữ được sức mua, và còn sinh lời chút đỉnh (phụ thuộc vào real yield lúc mua). Nếu loại chứng khoán này được phát hành rộng rãi và có thể mua bán được một cách dễ dàng/an toàn, tôi tin người dân sẽ bớt tích trữ vàng và đô la như một hình thức tiết kiệm. Đồng tiền VN có thể vẫn chưa có uy tín cao, lạm phát VN có thể vẫn còn cao, nhưng có lẽ những xáo trộn tâm lý như mấy ngày qua sẽ giảm đi ít nhiều.

Lý do thứ hai là với việc phát hành TIPS để bù đắp cho các khoản thâm hụt ngân sách, chính phủ sẽ có incentive yêu cầu NHNN phải kiểm soát lạm phát tốt, vì nếu không tiền trả lãi suất cho TIPS sẽ tăng cao. Nói cách khác, thay vì hô hào hay ra nghị quyết kiểm soát lạm phát, đây là một constraint đối với chính phủ/NHNN về lạm phát và constraint này rất credible (tất nhiên với điều kiện lượng TIPS phát hành phải đủ lớn và CPI phải được thống kê chính xác). Ngoài ra số liệu yield của TIPS sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách, các nhà đầu tư, nghiên cứu biết được inflation expectation của thị trường/người dân, từ đó đưa ra những chính sách thích hợp hơn.

Tôi nhớ hồi những năm 82-83 khi VN đang bị siêu lạm phát, chính phủ đã từng phát hành một loại công trái có tính chất inflation linked tương tự. Loại công trái này hồi đó được bảo đảm bằng lương thực và một số mặt hàng tiêu dùng khác (vải vóc, xe đạp...), là những thành tố chính của CPI sau này. Tôi không rõ số phận của những công trái đó sau này thế nào, nhưng rõ ràng VN đã có kinh nghiệm và cơ chế để phát hành TIPS. Điều cần làm hiện nay là tạo ra cơ chế cho TIPS có thể chuyển nhượng được trên thị trường thứ cấp, điều này sẽ giúp nó cạnh tranh được với vàng/đô la như một kênh tiết kiệm an toàn và liquid. Tôi nghĩ Bộ Tài chính nên bỏ thời gian ra nghiên cứu phương án phát hành loại trái phiếu này, thay vì nghiên cứu các phương án cá độ bóng đá.

Hi vọng đến một ngày đọc được dòng quảng cáo: "Nhà mặt tiền Q1, giá 1500 TIPS".


Thursday, November 4, 2010

That's why


Hai mươi sáu thành viên chính phủ Việt nam hiện tại:

1 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng 58 tuổi, ủy viên Bộ Chính trị, quê: Cà Mau, cử nhân luật, từng làm trưởng Ban Kinh tế trung ương, phó thủ tướng thường trực Chính phủ, thủ tướng Chính phủ.

2 Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng 61 tuổi, ủy viên Bộ Chính trị, quê: Nghệ An, tiến sĩ kinh tế

3 Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm kiêm bộ trưởng Bộ Ngoại giao 63 tuổi, ủy viên Bộ Chính trị, quê: Hà Nội, tiến sĩ ngành luyện kim.

4 Phó thủ tướng Trương Vĩnh Trọng 65 tuổi, ủy viên Bộ Chính trị, quê: Bến Tre, ĐH văn, ĐH quản lý kinh tế Liên Xô (cũ).

5 Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải 48 tuổi, quê: Thái Bình, kỹ sư hệ thống điện – thạc sĩ quản trị kinh doanh.

6 Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân kiêm bộ trưởng Bộ Giáo dục – đào tạo 54 tuổi, quê: Trà Vinh, Giáo sư kinh tế, TS điều khiển học.

7 Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh 58 tuổi, quê Vĩnh Phúc, ủy viên Bộ Chính trị, đại tướng, cao cấp quân sự (Đại học KHQS).

8 Bộ trưởng Bộ Công an Lê Hồng Anh 58 tuổi, quê Kiên Giang, ủy viên Bộ Chính trị, đại tướng.

9 Bộ trưởng Bộ Nội vụ Trần Văn Tuấn 57 tuổi, quê Hải Dương, tiến sĩ kinh tế.

10 Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường 54 tuổi, quê Vĩnh Phúc, phó giáo sư, tiến sĩ luật.

11 Bộ trưởng Bộ Kế hoạch – đầu tư Võ Hồng Phúc 62 tuổi, quê Hà Tĩnh, kỹ sư kinh tế.

12 Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh 52 tuổi, quê Nam Định, thạc sĩ quản trị kinh doanh.

13 Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng 54 tuổi, quê Hải Phòng, tiến sĩ kinh tế.

14 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp – phát triển nông thôn Cao Đức Phát 51 tuổi, quê Nam Định, tiến sĩ kinh tế.

15 Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Hồ Nghĩa Dũng 57 tuổi, quê Đà Nẵng, Đại học Công nghiệp tại Hungary, ngành luyện kim.

16 Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Hồng Quân 58 tuổi, quê Hải Dương, kỹ sư thủy điện.

17 Bộ trưởng Bộ Tài nguyên – môi trường Phạm Khôi Nguyên 57 tuổi, quê Hà Tây, tiến sĩ kinh tế, thạc sĩ, kỹ sư địa chất.

18 Bộ trưởng Bộ Thông tin – truyền thông Lê Doãn Hợp 56 tuổi, quê Nghệ An, tiến sĩ kinh tế.

19 Bộ trưởng Bộ Lao động – thương binh & xã hội Nguyễn Thị Kim Ngân 53 tuổi, quê Bến Tre, thạc sĩ kinh tế.

20 Bộ trưởng Bộ Văn hóa – thể thao – du lịch Hoàng Tuấn Anh 55 tuổi, quê Đà Nẵng, kỹ sư đo đạc hàng không, cử nhân luật.

21 Bộ trưởng Bộ Khoa học – công nghệ Hoàng Văn Phong 59 tuổi, quê Hà Nội, tiến sĩ Toán Lý.

22 Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu 56 tuổi, quê Bắc Ninh, tiến sĩ, bác sĩ.

23 Bộ trưởng – chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Giàng Seo Phử 56 tuổi, quê Lào Cai, dân tộc Mông, ĐH kinh tế.

24 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước VN Nguyễn Văn Giàu 50 tuổi, quê An Giang, tiến sĩ kinh tế.

25 Tổng Thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền 57 tuổi, quê Bến Tre, cử nhân luật.

26 Bộ trưởng – chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc 53 tuổi, quê Quảng Nam, cử nhân kinh tế.


16/26=61.5%. Các đỉnh cao trí tuệ trong ngành kinh tế được chính phủ trọng dụng thế này chả trách 5 năm qua không có giáo sư nào được phong cho ngành kinh tế.


Update (19/5/11): 8 trong số 9 lãnh đạo cao nhất hiện tại của TQ, bao gồm cả chủ tịch Hồ Cẩm Đào và thủ tướng Ôn Gia Bảo, là scientist/engineer.



Tuesday, November 2, 2010

Big week


"A Big Week" là title một bài báo của FT, "Happy Quantitative Easing Week" là title của NPR. Đối với dân Úc, tuần này là tuần quan trọng nhất trong năm vì có Melbourne Cup. Chỉ còn 2 tiếng nữa cuộc đua nổi tiếng này sẽ diễn ra, đồng thời RBA sẽ thông báo quyết định lãi suất ngay trước khi cuộc đua bắt đầu. Tôi đặt cược vào con ngựa số 13, Manighar, hiện tại đang có odd là 1/23, đồng thời đặt cược RBA sẽ giữ nguyên lãi suất (xác suất hiện tại là 71%). Hi vọng sẽ có payoff tốt :-)


Update: No luck! Both bets failed badly :-(


Sunday, October 31, 2010

October


Lần đầu tiên trong lịch sử của 5-year TIPS, loại trái phiếu này có yield âm (lãi suất thực âm) khi nó được US Treasury đấu thầu ngày 25/10. Đây là biểu hiện rõ nhất của inflation expectation đã tăng cao, khi mà market hiểu rằng QE II là điều không thể tránh khỏi trong cuộc họp của Fed ngày 3/11 tới. Mặc dù Bernanke & Co. đã tìm mọi cách downplay QE II, ẩn dụ bằng một cú đánh golf không quá mạnh tay, không còn ai tin vào một tương lai vững vàng của đồng USD nữa. Chẳng thế mà hết Singapore, Malaysia bây giờ đến Nga và Brazil quay sang đồng RMB như là một phương tiện thanh toán quốc tế cho tương lai. RMB swap lines đã được những nước này bàn thảo công khai và sau ngày 3/11 có lẽ sẽ có thêm nhiều central bankers thắc mắc renminbi (RMB) và yuan (CNY) khác nhau như thế nào.

Tôi cũng từng thắc mắc điều này và được một người bạn làm ở PBoC giải thích rằng renminbi là tên riêng của đồng tiền TQ, còn yuan là "money" theo tiếng Trung. Đồng tiền của Hàn quốc là won, của Nhật là yen có lẽ có cùng gốc vì có phát âm tương tự. Nếu đồng VN cũng có cái gốc yuan/yen đó biết đâu bây giờ cũng đang chịu sức ép lên giá như đồng yuan và yen chứ không lo mất giá, đỡ cho BS Hồ Hải khỏi phải trăn trở/thắc mắc. Nói vậy không có nghĩa là các central bankers của TQ và Nhật không đau đầu khi đồng tiền của họ đã/đang/sẽ lên giá so với đa số các đồng tiền mạnh khác. Bằng chứng là BoJ đã phải hạ lãi suất một lần nữa, tiếp tục quantitative easing, và nhất là phải can thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại hối hòng kéo đồng yen xuống dù biết điều đó là vô vọng.

Sau khi BoJ khai hỏa vào trung tuần tháng 9, "currency war" đã trở thành từ cửa miệng của giới chính trị gia lẫn kinh tế gia. Điểm khác biệt quan trọng nhất giữa hai nhóm "gia" này với đa số nhân loại là "war" luôn mang lại những cơ hội béo bở cho họ, như với bao cuộc chiến khác trong lịch sử. Giới chính trị tranh thủ "currency war" để đưa ra agenda cho mình hòng kiếm phiếu trong những kỳ bầu cử sắp tới, e.g. Hạ viện Mỹ đã thông qua dự luật yêu cầu DoC phải có biện pháp chống lại currency manipulation, một cách nói tế nhị cho "đánh thuế vào hàng nhập khẩu từ TQ". Trong khi đó giới kinh tế tất nhiên là ... tranh thủ kiếm tiền từ túi của các ngân hàng trung ương. Mấy tháng vừa rồi, BoJ và SNB đã lỗ hàng tỷ USD sau các cuộc intervention thât bại, không chừng BoK, BoT, RBI cũng có chung bottom line tồi tệ như vậy cho năm tài chính này. Theo "định luật bảo toàn lợi nhuận" của thị trường ngoại hối kẻ hưởng lợi là ai thì các bạn đã rõ.

Có điều tôi vẫn ngạc nhiên tại sao cả hai giới "gia" nói trên không nghĩ ra một từ gì thay thế cho chữ "war" để dân chúng đỡ tức giận. Chẳng hạn có thể gọi đó là "total/global easing", hay tuân thủ theo trường phái Keynes hơn là "global monetary expansion". Với đa số các nước mới nổi, tất nhiên không có VN trong đó, quả thật dòng vốn quốc tế lũ lượt đổ vào thị trường nội địa của họ rất phù hợp với khái niệm global easing. Có điều easing không phải lúc nào cũng tốt, Brazil, Thailand, Korea, Indonesia đều không muốn chào đó dòng vốn này. Bằng cách này hay cách khác, các quốc gia mới nổi này nói khéo với các nhà đầu tư/đầu cơ quốc tế rằng nền kinh tế của họ đã chạy quá công suất rồi, cõng thêm quí vị nữa thì chúng tôi "phát sốt" mất. Bởi vậy nếu quí vị muốn "ăn theo" thì chịu khó đóng thuế nhé, ít thì 15% như ở Thailand. Còn không, xin mời cứ đầu tư vào trái phiếu của chúng tôi (Mexico), nhưng 100 năm sau mới được lấy lại tiền.

Đấy là những nước đã thả nổi tỷ giá, còn một khi đồng nội tệ được/bị dính chặt vào đồng USD thì global easing sẽ mang đến lạm phát thông qua giá các loại nguyên/nhiên liệu nhập khẩu và các hoạt động bình ổn/can thiệp tỷ giá của ngân hàng trung ương. Global easing kéo theo local easing trong những trường hợp này buộc các ngân hàng trung ương TQ, Singapore, Ấn độ phải thắt chặt tiền tệ đột suất để đối phó với lạm phát tăng cao. Lần nâng lãi suất ngày 20/10 của PBoC còn đánh dấu việc chuyển sang dùng 25bps multiple giống phương Tây thay cho 27bps truyền thống, cột mốc lịch sử bỏ rơi tín ngưỡng 9 nút của văn hóa Trung hoa. Ngay cả ở VN, xu hướng thắt chặt tiền tệ cũng đang hình thành dù "hot money" dường như vẫn lẩn tránh cơ hội đầu tư ở một nền kinh tế vốn được cho là đầy tiềm năng này.

Cách đây vài năm, VN được cho là có tiềm năng vì sẽ là một thành tố trong công thức China+1. Từ khi các cuộc cãi vã về tỷ giá đồng RMB trở nên căng thẳng, việc TQ không sớm thì muộn cũng phải tăng domestic consumption thông qua higher wages làm cho cheap labor của VN càng hấp dẫn hơn. Rồi sau cuộc đối đầu giữa TQ và Nhật bản về rare earth, VN lại hi vọng sẽ là nguồn cung cấp loại khoán sản này cho thế giới, tiềm năng là nơi có thể chấp nhận cheap technologies dù môi trường có nguy cơ bị hủy hoại vĩnh viễn. Rồi thêm tiềm năng Cam ranh sẽ trở thành quân cảng cung cấp cheap services cho tàu ngầm các nước. Khẩu hiệu "kinh tế tri thức" rất thịnh hành mấy năm trước giờ đang được thay bằng các thể loại "tiềm năng", nhưng quanh đi quẩn lại vẫn chỉ là "cheap talks".


Saturday, October 30, 2010

Links



- Thanh Niên: 94,000 tỷ cho Đại lễ: bài phỏng vấn ông Hồ Quang Lợi, thành viên Ban Chỉ đạo Quốc gia về đại lễ, của phóng viên (Nguyễn?) Việt Chiến. Ông Lợi thẳng thừng bác bỏ con số 94 nghìn tỷ nhưng vẫn chối quanh không biết số chính thức là bao nhiêu. Tôi tin ông Lợi không biết thật, và đó là điều đáng buồn cho VN. Mấy hôm trước tôi cho rằng dù chi phí có nhỏ hơn con số đó, một lượng tiền lớn của ngân sách đổ ra trong một thời gian ngắn như vậy là một gói kích cầu rất mạnh, có thể là nguyên nhân gây ra lạm phát tăng cao. Ông Lợi nói rằng có nhiều công trình hạ tầng được xây dựng nhân dịp này đằng nào cũng để phục vụ cho nhân dân HN lâu dài nên không cần tính vào chi phí cho Đại lễ. Điều này không hoàn toàn đúng, việc cấp tập xây dựng nhiều công trình hạ tầng để chào mừng Đại lễ đẩy kế hoạch chi tiêu công của HN nhanh lên, vừa tạo gánh nặng cho ngân sách, vừa gây sức ép cho lạm phát như tôi nói ở trên. Cho nên khi đánh giá tác động kinh tế của việc tổ chức Đại lễ thì chi phí cho các công trình hạ tầng này vẫn phải tính vào chi phí cho Đại lễ, giống như các nước khi tổ chức Olympics vẫn phải tính chi phí các công trình hạ tầng, sân vận động vào chi phí cho Olympics dù những công trình đó cũng được sử dụng lâu dài sau này.
- Bloomberg: Slower growth, lower inflation needed: hiếm khi thấy ai có quan điểm VN phải giảm tốc độ tăng trưởng xuống... giống như quan điểm của tôi trên blog này. Có điều bác Jim Walker này phát biểu hơn mạnh miệng, chẳng hiểu bác ấy căn cứ vào đâu mà cho rằng phải tăng lãi suất thêm 2% nữa.
- SGTT: Hiệu quả dự án bô xít sẽ vỡ: theo ông Nguyễn Thanh Liêm, TKV đã thuê Viện Kinh tế Xây dựng đánh giá hiệu quả kinh tế. Vậy QH nên mời các chuyên gia của viện này đến thuyết trình. Trong lúc chờ QH, phóng viên kinh tế các báo nên tiếp xúc với Viện, phỏng vấn các chuyên gia liên quan và đề nghị họ công bố báo cáo nghiên cứu khả thi. Bạn nào có được bản báo cáo này cho tôi xin một bản, tôi sẽ viết ngay một bài phân tích/đánh giá thuần túy kinh tế cho dự án.
- VoxEU: Bond Beta: John Campbell và hai tác giả khác tính beta (theo CAPM) cho bonds, kết luận rằng khi bond có beta cao thì inflation expectation cao. Do đó central banks có thể dùng thước đo này để ước lượng inflation expectation.
- PBoC: Monetary committee: ngân hàng trung ương TQ cũng có monetary committee, tuy không hoàng toàn được quyết định chính sách tiền tệ nhưng cũng có các thành viên từ giới academic bên ngoài tham gia giống như đa số các monetary committee khác trên thế giới (trừ VN).
- FE: Golfer Ben: QE2 sẽ theo trường phái gradualism, nghĩa là tuần tới Fed sẽ công bố một gói easing nhỏ hơn và chậm hơn nhiều so với những gì market đã hi vọng. Mr. Chairman này có vẻ rất thích ví von, đã từng được thiên hạ gắn cho cái tên Helicopter Ben, sắp tới có lẽ sẽ là Golfer Ben hay Ben-the-Putter?
- Yahoo!7: Giving away: chắc bạn đã biết việc Bill Gates và Warren Buffett tuyên bố sẽ hiến tặng phần lớn tài sản của mình cho các hoạt động từ thiện, nhưng có thể bạn không để ý rằng việc hiến tặng phần lớn/toàn bộ tài sản diễn ra khá nhiều ở Mỹ chứ hiếm khi thấy ở các nước khác. Ở nhiều nước, VN cũng vậy, hoạt động từ thiện rất phổ biến nhưng những người giầu thường vẫn giữ tư tưởng "dynastic wealth", để lại của cải cho con cháu, dòng họ mình. [Một bài "phản biện" Warren Buffett thú vị: trong khi Buffett donate $100 tỷ tài sản của mình cho charities, ông cũng "donate" từng đó tiền cho giới nhà giầu Mỹ, cụ thể là những người đã bỏ tiền đầu tư vào quĩ của Buffett.]
- TBKTSG: Bệnh thành tích: có một cách thế này để chống lại căn bệnh khai vống GDP của địa phương lên: so sánh GDP và tax revenue của các địa phương, nơi nào có GDP cao mà tax revenue thấp thì phạt thật nặng lãnh đạo địa phương đó vì thất thu thuế.
- FT: "The government ... says the country must shift from a reliance on low-cost exports, and improve productivity and competitiveness. But, without practical policies, such talk is as cheap as Vietnamese labour itself.": đọc câu này "đau" nhưng đúng, VN hiện chẳng còn gì competitive nữa ngoài cheap labor. Tệ hơn nữa "cheap talks" càng ngày càng nhiều.
- John Cochrane: Global central planning: một bài báo thể hiện rất rõ quan điểm của Chicago/fresh-water school, cũng như right-leaning position của tờ WSJ gần đây. Cochrane cho rằng thay vì target 4% current accounts như Geithner đề nghị, hay can thiệp vào thị trường FX (coordinated thông qua IMF), các nước nên chấp nhận trade surpluses/deficits như là điều không thể tránh khỏi và cần thiết. Tuy nhiên Cochrane mâu thuẫn khi so sánh Mỹ thế kỷ 19 với TQ thế kỷ 21, hai nước ở cùng giai đoạn phát triển nhưng có trade balance trái ngược nhau. Ngoài ra vấn đề trade deficit còn là hậu quả của budget deficit (twin deficits), còn trade surplus là một phần của chính sách export-led growth. Trong những trường hợp như vậy không thể nói nhà nước không thể làm gì để target current accounts và cũng khó có thể kết luận surplus/deficits là efficient outcomes cho nền kinh tế thế giới được. Một mặt, Cochrane có vẻ bênh vực TQ trước những chỉ trích về việc manipulate đồng RMB, mặt khác Cochrane lại yêu cầu gây sức ép để TQ thả nổi tỷ giá và mở cửa capital account. Ironically, phía bên kia (Geithner/Krugman) lại ủng hộ capital control trong khi muốn TQ nâng tỷ giá RMB.
- FT: "If China let the level of the renminbi be determined by the markets ..... , the US would deliberately use its financial institutions to destabilise China.": cái quan điểm nhìn đâu cũng thấy "thế lực thù địch" này nghe quen quen. Mà đó là một nhóm "Chinese academics in Shanghai" đấy nhé chứ không phải báo Nhân dân nhật báo nói đâu. Có lẽ giới trí thức VN "thoáng" hơn các đồng nghiệp TQ?
- Zerohedge: Indonesia: trong thời gian qua, gần $20b đã chảy vào Indonesia khi kinh tế nước này tăng trưởng rất tốt và rất ổn định.
- Bloomberg: QE II: Bộ trưởng Kinh tế Đức Rainer Bruederle thẳng thừng phê phán QE II, cho rằng đó là một chính sách sai lầm và là một cách manipulate tỷ giá gián tiếp của Mỹ.
- Naked Cap: HFT: 70% tổng số trade trên các exchanges của Mỹ chỉ có tuổi thọ trung bình 11 giây từ lúc mua đến lúc bán (hoặc ngược lại).
- Krugman: Debt/GDP: tỷ lệ này chủ yếu do phần mẫu số quyết định, bởi vậy vấn đề không phải là hạn chế chi tiêu chính phủ (austerity) mà là chi tiêu thế nào cho có hiệu quả (giúp tăng GDP)
- Mike Moffatt: Did WWII ended Great Depression: 12 năm trước chính Krugman viết rằng fiscal stimulus liên quan đến WWII spending không phải là nguyên nhân chấm dứt Great Depression, điều mà Krugman (ver 2010) implied trong bài báo bên trên.
- Eichengreen: Reserve currencies: Barry cổ súy cho một hệ thống tài chính quốc tế với 3 đồng tiền là reserve currencies: USD, EUR, RMB.
- Insider Monkey: Index funds: từ trước tới giờ đa số mọi người đều cho rằng index funds là một dạng low cost investment. Tuy nhiên tác giả bài viết này chỉ ra thực chất index funds có một loại hidden cost khá quan trọng và có thể làm thay đổi cách nhìn với loại funds này. Cụ thể là mỗi khi một (vài) công ty dưới bottom của index bị loại ra và thay bằng các công ty khác (điều này xảy ra khá phổ biến cho những index lớn), các index funds thường react chậm hơn nhiều so với các traders khác, bởi vậy họ thường phải bán rẻ/mua đắt cho những transaction này. Theo tôi, lập luận này đúng nhưng hơi phóng đại vì các công ty ở bottom của một index thường có weights nhỏ, ít ảnh hưởng vào toàn bộ index. Hơn nữa các index funds có thể chấp nhận tracking errors và trên thực tế chẳng bao giờ mua những bottom stocks cả.
- Ethan Zuckerman: International shipping freights: tác giả dùng dịch vụ online của Maersk để tính ra chi phí vận chuyển một bình nước tinh khiết từ Fiji đến Cambridge (Massachusetts). Tính theo $/km thì trên tuyến đường này vận tải biển rẻ bằng 1/5 lần so với vận tải đường bộ. Một chi tiết thú vị nữa là phí vận chuyển container từ TQ đi Mỹ đắt gấp đôi so với chiều ngược lại. (Tôi cũng vào thử website của Maersk đăng ký account và check cước containers từ VN đi Mỹ, kết quả giống hệt như TQ. Trong khi đó cước hai chiều VN-TQ, VN-Singapore, VN-Úc giống nhau.)
- A Fine theorem: PPP-based GDP: Giới thiệu bài viết của Deaton and Heston về phương pháp và các problems khi tính PPP adjustment (có link đến pdf của bài viết). Tác giả khá bi quan về độ chính xác của PPP, cho rằng phải rất cẩn thận khi dùng PPP-based GDP cho các empirical works.


- Time: QE II and civil war: dù đây chỉ là bài viết trên một blog của Time, ý tưởng QE II có thể tạo ra civil war ở Mỹ (mà lại trích dẫn Zerohedge) được đăng ở đây thì quả thực chất lượng (phóng viên) của Time bây giờ tuột dốc xa thời Phạm Xuân Ẩn. [Hồi trước khi học tiếng Anh ở VN, thầy giáo của tôi thường cho readings lấy từ Time và Newsweek, tôi vẫn thích các bài viết của Time hơn. Sau này có vài năm tôi đặt Time dài hạn để đọc, cũng thấy chất lượng không còn tốt như xưa. Có lẽ hình thức báo chí này phải thay đổi (kém chất lượng đi) để cạnh tranh với các dạng Internet media khác, chẳng biết Time/Newsweek/The Economist có đi theo con đường của FEER không.]
- TBKTSG: CPI Tháng 10: so với TPHCM (0.45%), CPI của HN tăng cao hơn nhiều (1.22%) ... vì Đại lễ. Tất nhiên giá cả của các mặt hàng dịch vụ (hàng quán, giữ xe...) tăng cao do nhu cầu tăng, nhưng phải kể đến một yếu tố nữa là chi tiêu của HN cho Đại lễ, nghe đồn đại lên đến 10% GDP. Dù con số thực có thể không đến mức như vậy và một phần số tiền này chảy ra bên ngoài (vd Đường tới thành Thăng Long), một khoản chi lên đến vài phần trăm GDP trong một thời gian cực ngắn như vừa qua có thể nói là một gói "kích cầu" thuộc loại "khủng" trên thế giới. Lạm phát không tăng mới là lạ.
- Econbrowser: QE II: James Hamilton, tác giả cuốn textbook Time Series Analysis nổi tiếng, trả lời các phản bác về hiệu quả của QE II. Gần đây thấy Hamilton promote rất nhiều cho Cynthia Wu, một (nữ) sinh viên gốc TQ của mình.
- Marc to market: Rare earth war: mấy ngày vừa rồi Nhật lại tố cáo TQ tiếp tục ngăn cấm xuất rare earth sang Nhật, bây giờ đến lượt Mỹ. Lập luận của TQ là họ hạn chế xuất khẩu để đảm bảo cho nhu cầu trong nước, các nước khác nói nếu lo ngại supply không đủ thì tại sao không tăng giá?
- Macroblog: Price level targeting: chủ tịch Chicago Fed, Charles Evans, tuần trước đã chính thức đưa ra phương án price level targeting như là 1 trong 3 options Fed sẽ theo đuổi để stimulus kinh tế Mỹ. Trái với inflation targeting, chính sách này nếu được thực hiện sẽ có tính chất bù trừ cho lạm phát/thiểu phát trong quá khứ. Nghĩa là nếu hiện tại lạm phát quá thấp thì trong tương lai Fed có thể sẽ chấp nhận một giai đoạn có lạm phát cao hơn bình thường để đảm bảo price level đạt được target. Sở dĩ ý tưởng này được đưa ra vì nhiều người cho rằng thị trường đang lo ngại Fed sẽ buộc phải thắt chặt tiền tệ trong thời gian trước mắt khi lạm phát quay trở lại trong khi unemployment vẫn còn cao. Hơn nữa trong khi nguy cơ deflation đang rình rập, việc tạo ra inflation expectation là điều cần thiết nên nếu Fed công bố price level target thì thị trường sẽ tạo lập được cái expectation cần thiết đó.
- Thủ tướng: 1875/CT-TTg: nhân thấy báo chí nói nhiều về cái chỉ thị này của thủ tướng yêu cầu NHNN soạn thảo cơ chế cho các NHTM rút tiền ra khỏi lưu thông, tôi lần mò vào website của chính phủ xem thực hư thế nào. Hóa ra đây chỉ là một dạng văn bản hành chính khá bình thường của VN, hô hào khẩu hiệu là chính chứ không có biện pháp gì cụ thể cả. Cái câu làm nhiều người thắc mắc không biết (người soạn thảo văn bản cho) thủ tướng có hiểu thế nào là chính sách tiền tệ không cũng chỉ là một câu khẩu hiệu chung chung thôi, không phải tín hiệu thắt chặt tiền tệ hay mục tiêu mâu thuẫn gì đâu. Lần sau đề nghị các bạn phóng viên không đưa tin giật gân nữa :-)
- SGTT: Người kế vị: chỉ có ở những nước còn thế chế quân chủ hoặc chế độ cộng sản mới có khải niệm "kế vị" này. Lạ là các báo VN chưa bị thổi còi về chữ này.
- Yiping Huang: "Most importantly, China is not Japan. China will never let the US to force upon it any currency decisions.": Một câu nói rất trịnh thượng với ... Nhật, thể hiện rõ tâm thế của một nước lớn luôn tâm niệm không bao giờ chịu nhịn nhục trước phương Tây nữa như đã từng chịu đựng tại hiệp ước Nam Kinh và Thiên Tân trong thế kỷ 19. Yếu tố thể diện có vai trò quan trọng trong việc TQ tìm mọi cách cưỡng lại sức ép của Mỹ và các nước khác về vấn đề tỷ giá đồng RMB. Tuy nhiên Yiping Huang nói đúng, tỷ giá thực của đồng RMB đã lên giá, khoảng 5%/năm, vì TQ có lạm phát cao hơn Mỹ và nhiều nước phát triển khác (một phần vì chính chính sách can thiệp vào thị trường ngoại hối của TQ). Tôi đồng ý với tác giả này là Krugman/Wolf lờ đi không nhắc gì đến tỷ giá thực là một thiếu sót lớn. Tuy nhiên tôi không đồng ý với Yiping Huang ở chỗ RMB vẫn còn undervalued kể cả xét theo tỷ giá thực, bằng chứng là TQ không dám thả nổi đồng tiền của mình vì chắc chắn điều này sẽ làm RMB lên giá mạnh. [Các cựu sinh viên VN học kinh tế tại ANU thời 95-98 chắc còn nhớ vị giáo sư gốc TQ này. Yiping Huang sau khi rời ANU đã sang làm cho Citigroup HK một thời gian và hiện giờ là giáo sư đại học Bắc Kinh.]
- BBC: Benoit Mandelbrot: cha đẻ của lý thuyết fractal vừa qua đời. Lý thuyết toán học này cũng đã được ứng dụng trong finance/trading.
- TBKTSG: Sân sau: nếu dạy macro ở VN, tôi sẽ dùng bài báo này làm ví dụ về crowding out của government spending.
- FT: "Most of the big investment banks are negative on Vietnam’s investment potential at the moment, with UBS summing up the mood with a rather sceptical recent note warning that Vietnam “is now in the midst of the largest credit expansion we [have] seen anywhere in the 80-plus emerging countries we cover in the past two decades years."”: một bài rất negative về tình hình đầu tư (gián tiếp) nước ngoài ở VN. Như với những report trước đây của các IB lớn, tôi không quá quan tâm tới những nhận định rất bi quan của họ về tình hình kinh tế VN. Tuy nhiên câu cuối cùng trong bài này có nhiều ý nghĩa: các IB nhận định không chính xác về triển vọng kinh tế VN vì họ không có số liệu, hay nói các khác là economic transparency của VN quá kém. Bởi vậy với họ cứ nhận định thật xấu để khách hàng của họ khỏi quan tâm, thắc mắc gì thêm về VN cho đỡ nhức đầu. Cái thương hiệu hay image về triển vọng đầu tư ở VN quả thực xấu hơn so với thực tế.
- Frankenblog: Spelling mistake: tôi rất hay viết sai chính tả cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt nên đọc bài này thấy được an ủi phần nào :-)
- Scott Sumner: Even a Nobel prize is not qualified: Sumner là người duy nhất vẫn tiếp tục cho rằng Peter Diamond không thích hợp cho vị trí Fed's governor ngay cả sau khi Diamond được trao giải Nobel. Tuy nhiên đề suất của Sumner đưa Woodford và Svensson vào Fed chưa hẵn là hay, hồi trước Fred Mishkin, một đại thụ khác trong monetary economics, đã phải từ chức khỏi Fed chỉ sau hơn 1 năm làm việc cùng với BB. Một rừng không thể có 2 chúa sơn lâm.
- Scott Sumner: India No.1: trong khoảng 3-5 năm nữa Ấn độ sẽ tăng trưởng nhanh hơn TQ permanently và GDP sẽ vượt TQ trong khoảng 50 năm nữa. (TBKTSG cũng đã dịch bài này).
- Free Exchange: Nobel prize: trong giai đoạn khủng hoảng vừa qua quĩ của giải thưởng Nobel bị mất 22.3% giá trị và vẫn chưa phục hồi lại số lỗ đó. Do đó trong vài năm gần đây (và cả vài năm tới) phần hiện kim của giải Nobel đang bị chựng lại. Tất nhiên không vì vậy giải thưởng này kém danh giá mặc dù vẫn có những nước cố tình quên đi Nobel Peace Prize mà công dân họ được trao tặng, vd giải thưởng năm 1973 của ông Lê Đức Thọ.
- NYT: Hegel on Wall Street: theo các lập luận triết học của Hegel thì cần phải có government regulation vì từng cá nhân (on Wall street) nếu thả tự do mất phương hướng. Nếu họ thực sự hiểu họ đang làm gì thì họ sẽ tự nguyện đút đầu vào tròng regulation để được an toàn hơn?
- ZH: Friday-Monday effect: nếu bạn buy SPY Friday-close và sell Monday-close từ đầu năm tới giờ thì return sẽ là 14.2%, so với B&H 0.42%. Liệu đấy có phải là risk premium cho weekend holding không?
- Quantitative Trading: Data mining: 10 indicators predict 60% accuracy
- Clusterstock: FX volume: theo BIS hiện tại thị trường FX thế giới trong 4 ngày có trading volume lớn hơn GDP cả năm của Mỹ.
- NVP: Thương hiệu: cách đây 2 năm tôi có nói chuyện với một doanh nhân ở TPHCM, anh này nói giao thông thành phố đã tệ hại đến mức chỉ cần chính quyền cho tháo vài cái lô cốt đi là dân chúng đã "tung hô vạn tuế" rồi, chẳng cần cải thiện gì thêm. Cuối năm nay tôi sẽ về VN và chắc sẽ được tận mắt chứng kiến sự "cải thiện giao thông" sau hai năm. Một điểm rất quan trọng trong bài của anh Phú: VN chưa biết cách PR cho các sự kiện, hoạt động của chính quyền, dường như người ta vẫn sử dụng lối tuyên truyền của những năm 70-80.


- Spiegel: Last payment: Ngày 3/10/2010 vừa rồi Đức thanh toán nốt khoản tiền cuối cùng mà nước này vay nợ liên quan đến các khoản bồi thường chiến tranh cho Thế chiến thứ Nhất gần 100 năm trước. Các nước thắng trận đã áp đặt các khoản bồi thường chiến tranh này trong hội nghị Versailles năm 1919, nơi mà Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra yêu sách 8 điểm kêu gọi nhân quyền cho nhân dân các nước Đông dương.
- SGTT: Tại sao?: thêm một bài báo của tác giả Cảnh Thái. Trong bài báo khoảng 1000 chữ này có tổng cộng 18 dấu hỏi, một kiểu viết đặc trưng của các (cựu) quan chức? (Note: tôi không biết tác giả Cảnh Thái là ai và cũng không chắc tác giả bài này có phải là tác giả bài trong VNR500 link bên dưới hay không - trong bài bên dưới có 33 dấu hỏi/2000 từ). Một comment nhỏ: khi so sánh lãi suất giữa các nước, nhất là các nước đang phát triển, cần so sánh real interest rate chứ nominal rate ít có ý nghĩa.
- VNR500: Định giá thấp đồng VN có tạo đòn bẩy xuất khẩu?: đây là bài phản biện lại ý kiến của Huỳnh Thế Du. Nếu có điều kiện trao đổi với tác giả Cảnh Thái tôi sẽ chỉ hỏi một câu: vậy định giá cao VNĐ có tạo đòn bẩy cho xuất khẩu không?
- Macroblog: Deflation expectation: một phương pháp rất thông minh để estimate xác suất deflation sẽ xảy ra dựa vào đặc tính của TIPS mà tôi đã đề cập đến trong entry này
- WSJ: 40% rule: ai làm dự báo kinh tế nên học cái rule này
- The Economist: Global Debt Clock:
- FT: “Many of our exporting companies would have to close down, migrant workers would have to return to their villages,” Mr Wen said. “If China saw social and economic turbulence, then it would be a disaster for the world.”: thủ tướng một nước than nghèo kể khổ với thế giới trong khi có foreign reserve gần bằng nửa GDP, trong khi đang đóng tầu ngầm tàng hình, trong khi đang chuẩn bị phóng phi hành gia lên mặt trăng. Điều này thể hiện rất rõ bản chất dân tộc Trung hoa, sẵn sàng làm mọi điều để nuôi giấc mơ bá chủ. VN quả thật không may khi là hàng xóm của dân tộc này.
- TBKTSG: Ai quản lý cổ tức của nhà nước: nhà nước giữ hơn 50% trong số vốn điều lệ 3500 tỷ của Vinamilk nhưng nhân được dividend hơn 500 tỷ. Có thể nói kinh doanh sữa là một ngành siêu lợi nhuận và chắc chắn các công ty sữa nước ngoài không phải ngoại lệ. Vậy tại sao nhà nước, với control right ở Vinamilk, không yêu cầu công ty này giảm profit margin xuống để tăng cạnh tranh trong thị trường này, buộc các công ty sữa nước ngoài phải giảm giá bán? Xét trên quan điểm kinh doanh, với ROE cao như vậy tại sao Vinamilk không đẩy mạnh cạnh tranh trong ngành nghề của mình để giành thêm thị phần từ các công ty sữa nước ngoài mà lại đầu tư vào tài chính, dầu khí, địa ốc?
- Free Exchange: BoJ: giảm lãi suất từ 0.1% xuống 0-0.1%, tăng thêm QE ¥5 tril
- Econopicdata: MBA unemployment: trong năm 2009 hơn 10% MBA graduate từ Harvard, Stanford, MIT không tìm được việc làm 3 tháng sau khi tốt nghiệp.
- TT: Lãi thực của xuất khẩu: tác giả bài viết này không phân biệt rõ khái niệm value-added (giá trị gia tăng) và profit margin (lãi ròng). Đúng là profit margin của một số ngành xuất khẩu tụt xuống dưới 5% là một thực tế đáng buồn, tuy nhiên trong nhiều trường họp value-added của các ngành này vẫn đạt 30-40% và đây mới là con số được đưa vào GDP. Nên nhớ với những ngành công nghiệp đã mature và unprotected, profit margin sẽ không thể giữ cao được mãi (ai đã học micro hẳn còn nhớ khái niệm zero-economic profit trong competitive market). Nhưng với chủ doanh nghiệp, quan trọng là ROE chứ không đơn thuần là profit margin. Một doanh nghiệp có thể có profit margin không cao nhưng vẫn có ROE chấp nhận được nếu có capital structure hợp lý, quản lý inventory tốt, đầu tư máy móc thiết bị hiệu quả. Việc thiếu vắng các ngành công nghiệp phụ trợ đúng là không tốt, nhưng đấy không phải là lý do profit margin ngày càng giảm. Ngay cả nếu toàn bộ nguyên liệu được sản xuất trong nước và thị trường cạnh tranh, các công ty sản xuất hàng xuất khẩu vẫn không hưởng được phần economic profit này và nhiều khả năng profit margin của họ vẫn thấp. Có chăng họ sẽ có profit margin ổn định hơn vì ít bị ảnh hưởng bởi sự biến động của tỷ giá. Một câu hỏi cần đặt ra là tại sao các ngành công nghiệp phụ trợ không phát triển nếu thực sự họ có thể đem lại economic profit và không bị các rào cản kỹ thuật? Trên quan điểm kinh tế học chỉ có 2 câu trả lời: (i) economic profit mà mọi người vẫn nghĩ thực ra không có hoặc rất nhỏ, (ii) các nhà cung cấp nguyên liệu phụ trợ nước ngoài bán phá giá và/hoặc được chính phủ của họ trợ giá (vd thông qua tỷ giá thấp như trường hợp đồng RMB của TQ).
- Patrick Chovanec: Rare earth: một bài review chi tiết về thị trường rare earth thế giới
- Yahoo Finance: May's flash crash: cuối cùng tội đồ của vụ flash crash hồi tháng 5 là Waddell & Reed, đã đặt automatic sell 75K e-mini contracts ($4.1b) với một algorithm sai. Đơn giản thế này: sell order được thực hiện với 9% market liquidity cap nhưng họ không tính là khi có order lớn như vậy các HFT sẽ lập tức respond và market volume tăng vọt, nghĩa là cái cap 9% đó cũng tăng vọt theo giá trị tuyệt đối của order. Nhưng đó chỉ là trigger, sự lan truyền sau đó sang các market khác là do HFT và các thể loại algorithmic trading.
- Stiglitz: The euro may not survive: bài này không có gì mới nhưng tôi chợt ngẫm ra hơn nửa thế kỷ nay, phương Tây hay châu Âu chỉ còn quan tâm đến các vấn đề kinh tế và đã không còn ai nhớ gì về những tranh chấp lãnh thổ/tài nguyên nữa. Trong khi đó châu Á vẫn sôi sục các vấn đề biển đảo, sông nước.
- Dạ Ngân: Đau lòng con quốc: "Nhớ nước đau lòng con quốc quốc. Thương nhà mỏi miệng cái gia gia". Tôi làm cùng một anh người Đức và một anh người Nga. Hỏi họ có hay về nước không cả hai đều nói chẳng hứng thú gì quay về quê cũ dù vẫn còn cha mẹ họ hàng ở đó. Hỏi họ có hay đọc báo theo dõi tin tức từ Đức, từ Nga không, cả hai đều nói chẳng quan tâm. Hỏi họ có bắt con cái nói tiếng Đức, tiếng Nga ở nhà không, cả hai đều nói tùy chúng nó. Đúng là làm người Việt là một định mệnh.