Wednesday, September 9, 2009

Public debts


Click here:




Protection


TQ dường như đang học tập kinh nghiệm của VN vài năm trước: tìm cách hủy transactions giữa các SOE của mình với các foreign banks để bảo vệ các SOE không bị phá sản. Cụ thể FT cho biết TQ đang điều tra và có thể sẽ hủy bỏ một số oil foward contracts mà các SOE của TQ đã dại dột mua vào từ các foreign banks, có thể sẽ bị lỗ hàng tỷ USD. Chỉ hi vọng rằng không có trader nào bị bắt như ở VN trước đây.

Đáng buồn là ISDA, hiệp hội derivatives quốc tế mà hầu hết các derivatives contracts trên thế giới đều theo mẫu của tổ chức này, đã không lên tiếng. Dẫu sao giới finace/bankers quốc tế đang là "tội đồ" của cuộc khủng hoảng này.


Tuesday, September 8, 2009

Gold price


Đúng ra entry này phải có title là "Gold price and the state of economics". Nói vậy để các bạn đừng expect tôi sẽ bình luận hay dự báo gì về giá vàng. (Không phải chỉ có tôi, Paul Wilmott cũng lảng tránh vấn đề này :-)).

Phê phán kinh tế học dường như đang là mốt trong thời gian gần đây, gần nhất là một bài khá dài của Krugman trên NYT. Trước đó là những bài phê phán ở đây, đây, đây, và có lẽ còn nhiều bài khác mà tôi không biết. Tựu trung các nhà kinh tế "tự phê" ngành khoa học của mình đã dựa quá nhiều vào các mô hình toán "neat, plausible and wrong", dựa vào giả định rationality và efficient markets, quên lãng những ý tưởng quan trọng của Keynes hay của Mises/Hayek, v.v. và v.v.

Tuy nhiên tôi chưa thấy một phê phán nào từ giới academic về sự tách rời của lý thuyết kinh tế với thực tế nền kinh tế. Cụ thể, chưa có ai chỉ ra rằng có những loại assets có vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra boom-bust cycles: stock market price, house price, oil price, gold price,... Thực ra giới professional economists (những người làm việc trong finance industry hay policy maker) đã nhận thấy khiếm khuyết này từ lâu. Tôi nhớ cách đây 7 năm một chief economist của một ngân hàng lớn ở đây đã nói rằng các macroeconomists đang nợ một mô hình macro có explicit house price. Trước đó nữa tôi cũng được nghe một financial economist phàn nàn rằng gold price không được đưa vào các mô hình kinh tế chính thống.

Nói riêng về gold price, việc thiếu vắng gold trong các mô hình macro dường như thật khó hiểu khi gold đã đóng một vai trò quan trọng như vậy trong suốt lịch sử tiến hóa của nhân loại. Cho đến tận ngày nay tuy gold không còn vai trò chính yếu đằng sau các đồng tiền quốc gia, một lượng lớn gold vẫn được các ngân hàng trung ương và cả IMF dự trữ, Chí ít ở những quốc gia như VN, gold còn có vai trò quan trọng hơn khi dân chúng vẫn giữ một phần tương đối lớn tài sản của mình dưới dạng gold, các tiệm vàng hiện diện nhiều hơn tổng số các chi nhánh của toàn bộ hệ thống ngân hàng. Giá vàng lên xuống chắc chắn có ảnh hưởng lên quyết định đầu tư, tiêu dùng của một bộ phận lớn dân chúng, khó có thể nói ảnh hưởng này đã được tính toán đầy đủ trong CPI hay một chỉ số giá tổng hợp nào khác. Bản thân chính phủ VN explicitly "điều tiết" việc xuất nhập khẩu vàng, tương đương như việc kiểm soát tỷ giá hay capital accounts. Vậy mà gold vẫn không tồn tại trong các mô hình kinh tế (macro/monetary).

Khiếm khuyết này chính là nguyên nhân tại sao khi được hỏi về gold price, các nhà kinh tế chỉ "cười trừ" và phán chung chung rằng khi lạm phát tăng thì vàng sẽ lên giá. Tôi cũng không phải là ngoại lệ :-(

Update: Hai bài báo về gold price: Bloomberg and Telegraph.


Monday, September 7, 2009

Original sin III


"Mỗi lần điều chỉnh biên độ là một bài toán và không khéo thì lại phải trả thêm nợ"- Nguyễn Văn Giàu.

(Note: Cũng theo ông Giàu trong bài báo nói trên, nếu phá giá VNĐ 5% thì mỗi năm ngân sách phải trả thêm 26,000 tỷ đồng còn doanh nghiệp trả thêm 13,000 tỷ đồng. Giả sử ông Giàu lấy lãi suất hiện tại là 17,000 VNĐ/USD, phá giá 5% tỷ giá sẽ là 17,850VNĐ/USD. Như vậy VNĐ26000 tỷ tương đương USD1.46 tỷ, là phần VN phải trả thêm hàng năm cho số nợ nước ngoài. Số tiền này tương đương 5% của tổng số tiền phải trả hàng năm (lãi+gốc) nghĩa là hàng năm VN phải trả khoảng USD29.13 tỷ. Tương tự như vậy, khối doanh nghiệp phải trả USD14.57 tỷ. Như vậy chỉ riêng phần trả nợ nước ngoài này hàng năm VN cần phải có USD 43.7 tỷ, khoảng 2/3 kim ngạch xuất khẩu. Hi vọng ông Giàu nhầm hoặc phóng viên ghi sai chứ không thì...)

Update (17/11): Theo như Thống đốc Nguyễn Văn Giàu giải trình trước QH, tổng số nợ (stock) của giới doanh nghiệp hiện đang là $17b.

Update (20/11): Lưu Hảo (TBKTSG) có một bài rất chi tiết về tổng số nợ quốc gia của VN. Đến nay có vẻ con số $23b (stock) là con số được nhiều người nhắc đến nhất. Bài này còn cho biết flow của năm 2008 là $2.6b. Cũng trong năm 2008, tổng số tiền trả nợ là $1.104b.

Update (1/12): Theo Bộ trưởng BTT Vũ Văn Ninh, số tiền trả nợ (lãi+gốc) trong năm 2009 là VNĐ58.8trillion (chính xác ông Ninh cho biết chi trả nợ từ ngân sách tăng 10.2% so với dự toán tương đương VNĐ6tril). Tính theo tỷ giá hiện tại khoảng 19000VNĐ/USD thì số tiền này tương đương $3.1b.

Friday, September 4, 2009

Automatic stabilizer


Thông thường hệ thống bảo hiểm xã hội (bảo hiểm thất nghiệp, y tế, hưu trí) của nhà nước vẫn được các nhà kinh tế coi là automatic stabilizer. Nghĩa là trong những giai đoạn suy thoái hệ thống này sẽ tự động tăng chi giảm thu, do đó bù vào sự sụt giảm aggregate demand do suy thoái gây ra. Điều ngược lại xảy ra khi kinh tế booming. Chính tác dụng automatic stabilizer này của hệ thống bảo hiểm xã hội đã giúp châu Âu không phải đưa ra những gói kích cầu khổng lồ như Mỹ, nơi mà bảo hiểm xã hội rất thấp.

Tuy nhiên Free Exchange vừa đưa ra một ý tưởng automatic stabilizer mới cho Mỹ. Đó là khi khủng hoảng xảy ra số tiền tiết kiệm (để dành cho nghỉ hưu) của người dân bị mất mát một phần nên nhiều người buộc phải kéo dài thời gian làm việc thêm vài năm (40% số người trên 62 tuổi trả lời như vậy trong một cuộc survey gần đây). Nếu vậy chính việc thiếu hụt một hệ thống hưu trí mạnh là một automatic stabilizer trong labor market ở Mỹ, một điều thật chớ trớ trêu nhưng rất phù hợp với tư tưởng tự do của xã hội này.

Update (12/11): Free Exchange trích dẫn một nghiên cứu mới cho rằng thực ra ảnh hưởng của suy thoái vào labor market phức tạp hơn. Một mặt sẽ có nhiều người phải delay kế hoạch nghỉ hưu vì tiền tiết kiệm bị mất một phần, mặt khác tình hình kiếm việc khó khăn sẽ làm một số người quyết định nghỉ hưu sớm vì cho rằng không còn cơ hội kiếm việc. Trong nghiên cứu của Coile và Levine, ảnh hưởng thứ hai lớn hơn, nghĩa là số người quyết định nghỉ hưu sớm nhiều hơn số người quyết định delay kế hoạch nghỉ hưu. Tuy nhiên nhóm thứ nhất chủ yếu là low skill labor, trong khi nhóm thứ hai lại là high skill. Cho nên tác động vào output chưa chắc đã negative. Nghĩa là vẫn có thể đây là một automatic stabilizer cho kinh tế Mỹ.

Maturity mismatch II


"Giống như đấu thầu trái phiếu ngoại tệ hồi tháng 3 vừa qua, đợt phát hành lần hai trong tuần qua, 100 triệu USD trái phiếu ngoại tệ kỳ hạn 1 năm được bán hết; nhưng trong 100 triệu USD trái phiếu kỳ hạn 2 năm chỉ bán được 47 triệu USD, và chỉ bán 20% trong tổng số 50 triệu USD trái phiếu kỳ hạn ba năm." SGTT.

Không biết NHNN có yêu cầu chính phủ chỉ được sử dụng 30% số tiền vay từ trái phiếu ngắn hạn cho các dự án đầu tư dài hạn hay không? Maturity mismatch không chỉ là problem cho các NHTM mà cả chính phủ nữa.


P-Notes


Một bạn hỏi tôi về P-Notes trong phần comment của entry trước, thú thực tôi không biết gì về công cụ này, nhưng thời nay cái gì không biêt thì hỏi Google sẽ có ngay câu trả lời. Vấn đề P-Notes ở VN vừa được Trưởng Bộ môn Đầu tư Tài chính, ĐHKT TPHCM, Lê Đạt Chí đưa ra trong một bài viết trên TBKTSG. Ông Chí, có lẽ trích dẫn từ nguồn này, chỉ ra 3 nguy cơ của P-Notes là: (i) biến động bất lợi khó dự báo, (ii) luân chuyển dòng vốn không rõ nguồn gốc, (iii) rửa tiền.

Một điều khá ngạc nhiên là P-Notes dường như chỉ tập trung ở Ấn độ, mặc dù nó cũng có mặt ở một số thị trường mới nổi khác như TQ và VN. Có lẽ lý do cơ bản là trước đây Ủy ban chứng khoán Ấn độ chỉ cho phép các nhà đầu tư nước ngoài lớn (foreign institutional investors - FII) được phép đầu tư vào thị trường chứng khoán nước này. Do vậy các nhà đầu tư nhỏ lẻ buộc phải đầu tư thông qua các FII và P-Notes là một công cụ để thực hiện việc này. Thực ra nhiều public funds cũng là một hình thức gom tiền của các nhà đầu tư nhỏ lẻ và đem vào các thị trường mới nổi đầu tư. Tuy nhiên P-Notes khác với unit/share của các public funds đó ở chỗ nó cho phép các nhà đầu tư trực tiếp quyết định mua loại chứng khoán nào và có voting rights với những doanh nghiệp mà họ đầu tư.

Nói một cách khác, P-Notes là một công cụ ủy quyền của một nhà đầu tư ở nước ngoài cho một công ty chứng khoán trong nước mua một loại chứng khoán nào đó. Cách làm này giúp nhà đầu tư ở nước ngoài không phải làm các thủ tục đăng ký đầu tư khá rắc rối và nhiêu khê mà vẫn có exposure vào chứng khoán nội địa của một nước. Đối với những nước còn kiểm soát capital account, P-Notes có thể giúp các nhà đầu tư không phải lo lắng gì về việc chuyển tiền vào hoặc rút tiền ra, có thể tránh được một số loại thuế. Ngoài ra nhà đầu tư cũng không phải tiết lộ danh tính nên có thể có ích cho họ trong một số trường hợp. (Một ví dụ khá tương đồng là TQ đã mua một lượng lớn US bonds thông qua các brokerage ở London, có lẽ với hình thức khá giống P-Notes, nên thống kê chính thức của Mỹ không lộ ra phần sở hữu này của TQ.)

Quay lại 3 nguy cơ mà ông Lê Đạt Chí đưa ra, tôi cho rằng nguy cơ (i) không lớn lắm, lý do là tuy P-Notes có nhiều tính chất của một loại derivatives, thực chất nó không có leverage effect như nhiều loại swaps/options/futures phổ thông. Nguy cơ (ii) cũng không đáng ngại, trừ khi chính phủ VN cho rằng một quốc gia/tổ chức nào đó muốn giấu mặt đầu tư vào thị trường VN với mục đích không tốt. Nếu không, về mặt quản lý, sẽ chẳng khác gì nếu nguồn vốn đầu tư của ông A, bà B, hay của Deutsche Bank DWT Vietnam Fund, miễn là UBCK thống kê được đó là nguồn vốn từ ngoài VN. Tôi không rõ mức độ nghiêm trọng của hoạt động rửa tiền ở VN thế nào, nhưng chắc những nguồn tiền "bẩn" từ VN sẽ tìm cách chảy vào các ngân hàng Thụy sĩ hay đâu đó chứ không dại gì quay ngược về VN dưới hình thức P-Notes.

Tóm lại, không như ông Lê Đạt Chí, tôi không lo ngại lắm việc P-Notes xuất hiện ở VN. Có chăng đó là biểu hiện "lách luật" của các nhà đầu tư nước ngoài khi phải đương đầu với những thủ tục rườm rà, phức tạp khi muốn đem tiền vào đầu tư. Xét về khía cạnh volatility, tôi cho rằng những nhà đầu tư nước ngoài số đông có investment horizon dài hạn. Có lẽ các nhà đầu tư trong nước mới là nguồn volatility chính của thị trường. Một điểm quan trọng nữa là capital account của VN vẫn còn đóng, đó là cái van an toàn quan trọng nhất chứ không phải việc kiểm soát P-Notes.


Thursday, September 3, 2009

PMI


Manufacturing PMI (August-2009):

- Global: 53.1 (+3.1)
- US: 52.9 (+4.0)
- UK: 49.7 (-0.5)
- EU: 48.2 (+1.9)
- GE: 49.2 (+3.5)
- FR: 50.8 (+2.7)
- IT: 44.2 (-1.2)
- SP: 47.2 (-0.1)
- SD: 52.4 (-1.9)
- NW:
- SW: 50.2 (+5.9)
- RU: 49.6 (+1.2)
- JP: 58.7 (+4.0)
- AU: 51.7 (+7.2)
- CH: 54.0 (+0.7) - CFLP
- CH: 55.1 (+2.3) - CLSA
- IN: 53.2 (-2.2)


Wednesday, September 2, 2009

Wine


Tôi thuộc loại không biết uống rượu, "trình độ" chỉ đủ phân biệt được vang đỏ với vang trắng. Bởi vậy tôi rất thán phục những người có khả năng phân biệt và đánh giá được "chất lượng" các loại wine (rượu vang) khác nhau. Thế nhưng hôm nay thấy Felix Salmon trích dẫn một bài nghiên cứu của Bob Hodgson cho biết số liệu từ 13 cuộc competitions về wine cho thấy thực ra "chất lượng" của wine, đánh già bằng gold medal trong các cuộc competitions đó, có vẻ là một random variable.

Bob Hodgson cho biết có tổng cộng 375 loại wines tham gia vào ít nhất 5 cuộc thi và chỉ có 6 loại được 3 gold medal, 20 được 2, và 106 được 1. Không có loại wine nào đạt 4 hoặc cả 5 gold medals và đặt biệt là trong số 132 wines đã được huy chương vàng đó có tới 84 wines không được thêm giải nào (no award), nghĩa là bị đánh giá dưới trung bình ở các cuộc thi khác. Với số liệu này, tác giả estimate được binomial probability của một loại wine được gold medal là 0.09, hoàn toàn trùng hợp với observed frequency.

Tóm lại Felix Salmon kết luận rằng "chất lượng" của một loại wine phụ thuộc vào brand name của nó là chính, nếu bịt mắt người uống lại thì "chất lượng" sẽ là một biến số hoàn toàn ngẫu nhiên. Điều này an ủi tôi một phần nào, do đó tôi quyết định tối nay sẽ uống một cốc rượu vang để kỷ niệm Ngày Độc lập. Cho dù tôi không thưởng thức được "chất lượng" của wine thì cũng để tạm thời quên đi cái "tương lai xa" của nơi mình chôn rau cắt rốn.


Note 1: Tôi đã từng biết professional sport economists, professional golf economists, nhưng bây giờ mới biết có cả wine economists và thậm chí cả American Association of Wine Economists.

Note 2: Không biết lúc viết bài Bob Hodgson có đang uống wine hay không nhưng số liệu các gold medalists tôi trích dẫn bên trên khác với số liệu mà Felix Salmon trích dẫn vì từ 2 đoạn khác nhau trong bài viết của Hodgson.


Tuesday, September 1, 2009

Petrol price II


So sánh giá xăng dầu bán lẻ của VN với các nước khác rất khập khiễng. Đơn giản vì thuế đánh vào xăng dầu ở các nước khác nhau rất xa. Tôi không có số liệu thuế nhập khẩu xăng dầu của các nước láng giềng của VN để so sánh, nhưng đồ thị sau cho thấy thuế xăng dầu của VN (khoảng 20-30%, dưới E0.2/lít ) thuộc nhóm thấp nhất trong số các nước The Economist dẫn chứng. Cho nên cho dùng giá bán lẻ xăng dầu ở VN thấp hơn nhiều nước cũng không có nghĩa các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu bị lỗ.


Update (17/09): Theo Tuổi trẻ, tổng số thuế và phí lên 1 lít xăng 92 ở VN hiện nay là 5900 đồng, tương đương với 37.5% giá xăng. Cũng theo TT, tỷ giá 1 EUR ngày hôm nay là 26,677 đồng. Như vậy tổng số thuế và phí trên 1 lít xăng 92 ở VN tương đương 22 EUR cent, không khác với số tôi estimate ở trên là mấy.