Tuesday, May 11, 2010

CPI


CPI ở đây không phải là chỉ số giá tiêu dùng mà là Corruption Perception Index của Transparency International (càng thấp càng tham nhũng). Hôm qua bác Anonymous (May 9, 5:18PM) có comment trong entry này về vấn đề đặc quyền đặc lợi của quan chức nhà nước ở Hi lạp, ngay lập tức Felix Salmon có câu trả lời bằng đồ thị sau (tôi thêm vào chấm mầu đỏ cho VN):


CPI của Hi lạp tệ nhất trong số các nước thuộc Eurozone và quan hệ giữa CPI và bond yield rất mạnh, chẳng trách gì nước này nợ nần ngập đầu. Đúng là default hay bailout Hi lạp cũng chỉ là giải pháp ngắn hạn, dài hạn phải làm sao cho CPI tăng lên, một cuộc cải cách chính trị xã hội sâu rộng hơn nhiều so với cải cách kinh tế (e.g. fiscal austerity). Điều này cũng đúng cho cái chấm mầu đỏ bên trên.

Update (11/11): The Atlantic có một bài về quan hệ giữa CPI và các yếu tố kinh tế xã hội khác. Một trong số đó là GDP per capita trong đồ thị dưới đây. VN nằm rất gần đường trend line, nghĩa là so với các nước có GDP per capita tương đương thì VN có corruption (đo bằng CPI) vào loại trung bình, không quá tệ cũng không quá tốt.



Industrial reserve army


Bây giờ tôi mới biết đấy là thuật ngữ Karl Marx dùng để chỉ unemployed labor. VN thời 77-80 có tỷ lệ thất nghiệp 12.7%, trước đây tôi nghi ngờ con số này quá cao, bây giờ ngẫm lại thấy có khi lại đúng: họ nằm trong reserve army, nhưng không phải industrial mà là boat.


Monday, May 10, 2010

Bank size II


Trong một entry trước tôi đã so sánh hệ thống ngân hàng VN với Mỹ để cho thấy thực ra dựa vào nhiều chỉ tiêu không thể nói số ngân hàng thương mại của VN quá nhiều hoặc nhiều ngân hàng quá nhỏ, ít nhất so với Mỹ. Do vậy không nhất thiết phải consolidate hệ thống ngân hàng để giảm bớt số lượng ngân hàng hay tăng độ lớn của các ngân hàng, ngược với xu hướng chung trên thế giới là giảm bớt bank concentration.

Tuy nhiên vấn đề cơ bản của qui định vốn điều lệ của một ngân hàng không hẳn ở chỗ một nền kinh tế có quá nhiều hay quá ít ngân hàng, hay ngân hàng quá nhỏ. Mấu chốt của vấn đề vốn điều lệ là để đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính, điều mà ông Lê Đức Thúy đề cập đến trong một bài phỏng vấn với VNEconomy. Ông Thúy nói đúng, điều mà nhà quả lý, trong trường hợp VN là NHNN, quan tâm là CAR (capital adequacy ratio) phải đủ mức tối thiểu. Một hệ thống tài chính an toàn khi các ngân hàng có CAR cao, nói cách khác có đủ vốn để "chịu trận" khi bị lỗ. Nếu vốn thấp mà bị lỗ nặng, ngân hàng sẽ phá sản và vì đặc thù của loại hình kinh doanh này sẽ rất dễ kéo theo toàn hệ thống sụp đổ, liên lụy cho cả nền kinh tế.

Tuy nhiên tôi hơi ngạc nhiên khi ông Lê Đức Thúy nói Basel II, một bộ tiêu chuẩn/khuyến cáo của BIS, yêu cầu CAR bằng 15%. Thực tế Basel II yêu cầu CAR tối thiểu cho Tier1+Tier2 capital là 8% (tham khảo nguồn này của BIS). Với Tier 1 (paid-up capital + disclosed reserves) nhiều nước yêu cầu CAR tối thiểu là 4%. Các con số CAR này (theo quan điểm của Basel II) đều tính trên risk-weighted assets, nghĩa là đều lớn hơn nghịch đảo của leverage ratio (= total assets/tier 1 capital) mà nhiều banks chỉ khoảng 2%. (Update 12/5: Tôi thêm vào chữ "nghịch đảo" trong câu trên cho chính xác. Cám ơn bạn Nguyen Duong Hieu comment bên dưới).

Bỏ qua vấn đề con số cụ thể cho yêu cầu CAR tối thiểu và các cách thức hiệu chỉnh assets theo risk (risk weighted assets), điều quan trọng là CAR phụ thuộc vào 2 yếu tố: tử số là vốn điều lệ và mẫu số là tổng tài sản. Như vậy để tăng độ an toàn cho một ngân hàng hay toàn bộ hệ thống, nhà quả lý hoặc chặn không cho ngân hàng tăng assets quá cao hoặc yêu cầu ngân hàng phải tăng vốn. Việc NHNN yêu cầu các ngân hàng tăng vốn tối thiểu lên 3000 tỷ VNĐ có thể coi là một vế của kế hoạch tăng CAR cho toàn hệ thống, nhưng rõ ràng chỉ yêu cầu tăng vốn điều lệ tối thiểu là không đủ và có thể còn làm tăng rủi ro.

Thứ nhất nếu ngân hàng tăng vốn điều lệ đồng thời tăng assets thì CAR có thể không tăng. Đây là khả năng rất dễ xảy ra vì một ngân hàng khi đi huy động vốn điều lệ họ không thể nói ROE của tôi sẽ giảm, như thế không ai bỏ tiền mua cổ phiếu của ngân hàng đó. Để ROE không giảm trong khi CAR tăng, ngân hàng buộc phải tăng ROA, một điều không dễ trong hoàn cảnh hoạt động ngân hàng ở VN còn rất khó khăn như hiện nay. Liệu có ai tin một ngân hàng không mấy tên tuổi có ROA cao hơn hẳn mặt bằng chung của toàn hệ thống? Ngược lại, để thu hút nhà đầu tư trong khi hàng loạt ngân hàng đang phải cạnh tranh nhau huy động vốn, các ngân hàng nhỏ sẽ phải quảng cáo ROE cao, dividend yield cao, bằng cách âm thầm giảm bớt CAR (tăng leverage). Nghĩa là cuộc chạy đua tăng vốn điều lệ sẽ làm hệ thống ngân hàng rủi ro hơn.

Thứ hai, như đã đề cập đến trước đây, vấn đề phân loại nợ xấu và trích lập dự phòng cho các khoản nợ xấu đó của các ngân hàng còn rất xa rời thực tế. Cứ giả sử NHNN thành công trong việc tăng CAR toàn hệ thống, nhưng nếu nợ xấu vẫn được giấu kỹ ở đâu đó thì số CAR mà các ngân hàng báo cáo chỉ là số ảo, con số thực sẽ thấp hơn nhiều và rủi ro tiềm ẩn cao hơn nhiều. Tạm thời bỏ qua các khoản nợ xấu trong lịch sử, việc yêu cầu tăng vốn điều lệ sẽ dẫn đến các ngân hàng phải chạy đua tăng ROE/ROA như đã đề cập bên trên để cạnh tranh vốn. Trong trường hợp này rủi ro nợ xấu sẽ tăng lên, do vậy không giải quyết được vấn đề phân loại và theo dõi nợ xấu thì yêu cầu tăng vốn điều lệ (để tăng CAR) không giải quyết được bài toán an toàn cho hệ thống.

Thứ ba, giải pháp mà ông Thúy và NHNN có vẻ đang theo đuổi là ép buộc các ngân hàng không đủ 3000 tỷ vốn điều lệ phải sáp nhập. Về mặt số học đây là giải pháp sai lầm vì 2 ngân hàng có CAR thấp sau khi sáp nhập CAR không thể tăng dù vốn điều lệ tăng. Kể cả nếu bỏ qua CAR, liệu rủi ro hệ thống có giảm đi khi các ngân hàng nhỏ sáp nhập lại với nhau không? NHNN lập luận rằng với số ngân hàng ít đi họ sẽ giám sát chặt chẽ hơn và bản thân các ngân hàng sẽ cẩn thận hơn/điều hành tốt hơn là những ngân hàng nhỏ manh mún hiện nay. Trước hết cần xác định ngân hàng càng lớn hoạt động và sản phẩm càng phức tạp, NHNN sẽ càng khó giám sát và kiểm tra để phòng ngừa/ngăn chặn rủi ro. Ngoài vấn đề too-big-to-fail, nhiều nhà kinh tế (Krugman, Johnson) đã cảnh báo too-big-to-regulate. Nghĩa là ngân hàng lớn sẽ có nhiều cách để "lách luật", hoặc tệ hơn nữa là ảnh hưởng vào quá trình làm luật/chính sách để có lợi cho mình.

Lập luận cho rằng các ngân hàng nhỏ hiện nay thiếu chuyên môn và hoạt động quá liều lĩnh theo tôi có một phần chính xác. Tuy nhiên giải pháp M&A các ngân hàng nhỏ và/hoặc buộc tăng vốn điều lệ không giải quyết được nguyên nhân căn bản. Chuyên môn/nghiệp vụ ngân hàng không phải là điều quá khó để các ngân hàng nhỏ không thể học được (với sự giúp đỡ của NHNN). Việc vận hành những ngân hàng nhỏ có 1-2 chi nhánh đơn giản hơn nhiều một ngân hàng lớn có chi nhánh toàn quốc và cả ở nước ngoài. Việc tăng chuyên môn phụ thuộc vào đào tạo, giúp đỡ, giám sát của NHNN nhiều hơn là M&A. Các ngân hàng nhỏ sau khi sáp nhập với nhau không có nghĩa đội ngũ nhân viên và lãnh đạo tự nhiên có trình độ chuyên môn tăng lên mà kiểu gì cũng cần đào tạo lại.

Điểm cuối cùng, quan trọng nhất, là ông Thúy và NHNN chưa nhìn thấy nguyên nhân chính của việc tại sao các ngân hàng nhỏ hoạt động quá rủi ro (vd chạy đua lãi suất hay vay ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng để cho vay dài hạn). Đó không phải là vì họ nhỏ và thiếu chuyên môn mà là hậu quả tất yếu của việc các ngân hàng quốc doanh và một vài ngân hàng lớn (too-big-to-regulate) được hưởng nhiều ưu đãi vô tình hay cố ý nên các ngân hàng nhỏ không còn cách nào khác là phải liều lĩnh hơn để đạt được ROE như đã hứa với các cổ đông. Việc các tổng công ty đua nhau mở ngân hàng trong vài năm lại đây cũng là hệ quả của việc ROE của một vài đại gia ngân hàng quá cao, tất nhiên còn có phần do bubble giá cổ phiếu trong giai đoạn 2005-2007. Việc thông tin ngân hàng mù mờ (vụ Vietnam Credit) càng có lợi cho các đại gia và càng đẩy các ngân hàng nhỏ vốn đã liều lĩnh càng liều lĩnh hơn.

Paul Krugman có nhận xét rằng trước những năm 70-80, banking là một nghề rất boring nhưng hệ thống ngân hàng Mỹ lúc đó rất ổn định và phục vụ tốt cho nền kinh tế, không như hiện nay banking là một nghề có lợi tức cao nhưng lại có hại. Tôi không hoàn toàn đồng ý với Krugman, nhưng cũng nghĩ nếu VN có một hệ thống ngân hàng boring, lợi nhuận bằng hoặc thấp hơn các ngành khác có khi lại là điều tốt, ít nhất trong thời điểm hiện tại.

Giải pháp: các bạn đọc thêm bài của tác giả Nguyễn Hồng Hải, những đề suất trong bài này tốt hơn và trực diện hơn nhiều yêu cầu tăng vốn điều lệ hay M&A các ngân hàng nhỏ.


Update: Ngân hàng sẽ mất tư cách pháp nhân nếu không tăng được vốn lên ngưỡng tối thiểu 3000 tỷ VNĐ. Tại sao không có quy định tương tự cho các ngân hàng không có CAR tối thiểu 8%?

Update (25/5): NHNN vừa tăng CAR từ 8% lên 9%, nhưng quan trọng là CAR sẽ được tính như thế nào? Có vẻ phần mẫu số sẽ chỉ bao gồm risky assets, còn tỷ số chưa rõ sẽ bao gồm những phần nào của owner equity. Dẫu sao đây cũng là biện pháp nâng tính an toàn của hệ thống tốt hơn là yêu cầu nâng vốn điều lệ lên.


Saturday, May 8, 2010

Insurance


MR blog cho biết một tổ chức ở Paris đã bán bảo hiểm rủi ro bị phạt cho những người trốn vé tàu điện ngầm ở thành phó này (nhớ thời sinh viên ghê :-)). Các commenter trên blog MR còn cho biết ở Stockholm và Bombay cũng có hình thức bảo hiểm cho những người trốn vé như vậy.

Nếu không tính đến các khía cạnh pháp luật, đạo đức, xã hội, moral hazard ... thì bất đẳng thức sau phải đúng M < pF < T cho một người trốn vé trung bình, trong đó M là premium bảo hiểm/tháng, T là tiền vé/tháng, F là tiền phạt và p là xác suất bị phạt trong 1 tháng. Nếu không có bảo hiểm thì số người trốn vé sẽ là một hàm tăng của chênh lệch T-pF, n=f(T-pF), f'> 0. Như vậy chính quyền có thể chống lại tình trạng trốn vé bằng cách tăng tiền phạt F hoặc tăng số inspectors (tăng p). Khi có thể mua bảo hiểm, số người trốn vé sẽ là n=g(T-M), g'>0, không phụ thuộc vào p và F nữa. Nghĩa là nếu hình thức bảo hiểm này tồn tại, chính quyền không có cách nào dẹp bỏ được nạn trốn vé :-)

Chúc các bạn cuối tuần vui vẻ và không bị bắt nếu đi trốn vé :-)


Friday, May 7, 2010

Angus Maddison


Giới economists thường chỉ thích viết những mô hình hoành tráng, công thức phức tạp, hay chạy econometrics bằng những kỹ thuật tiên tiến nhất, chứ ít ai chịu khó ngồi thu thập và kiểm chứng số liệu. Cũng phải thôi vì viết một paper với hàng đống theorem, lema, math appendices thì dễ impress người khác hơn là làm một cuộc survey hay cày cục ngồi gõ lại data từ những tờ báo cũ. Những lý thuyết, mô hình đó mới là cái cầu dẫn đến journals, tenure track, professorship hay danh tiếng và thậm chí giải Nobel.

Nhưng lý thuyết và mô hình có thể sẽ lạc hậu, useless, hay thậm chí sai lầm trong tương lai. Còn những bộ số liệu được thu thập cẩn thận sẽ là tài sản vĩnh viễn của nhân loại, nhiều trường hợp sẽ là vô giá. Và bộ số liệu về kinh tế thế giới trong hàng nghìn năm qua mà Angus Maddison đã bỏ cả sự nghiệp ra thu thập là một trong những tài sản vô giá đó: The world Economy: A millennial perspective. Angus Maddison chưa bao giờ tốt nghiệp PhD (một cách chính thức), nhưng với tôi ông là một trong những professors kinh tế đáng kính trọng nhất trong lịch sử kinh tế học. RIP: 1926-2010.

[Ngoài lề: Bộ số liệu này của vua Gia Long thu thập cách đây hơn 200 năm cũng là một trong những tài sản vô giá của VN và nhân loại. Không rõ hiện giờ số phận của nó như thế nào, bạn Đỗ Quốc Anh đã tiếp cận được nó chưa và đã có ai có phương án bảo vệ chưa?]


Sensitive info


Bộ Tài chính vừa "lấn sân" Bộ 4T, yêu cầu báo chí "cân nhắc độ nhạy cảm" trước khi đưa tin liên quan đến kinh tế tài chính. Nếu báo chí có "lấn cấn" điều gì thì phải hỏi ông Chánh Văn phòng BTC, kiêm người phát ngôn của bộ này, trước khi đưa lên báo. Hi vọng bờ-lốc không thuộc diện được/bị điều chỉnh bằng văn bản này, chứ không làm sao dân đen như tôi liên hệ với ông Chánh để nêu thắc mắc được.

Mà không thấy BTC đả động gì về họp báo thường kỳ hay cổng thông tin điện tử cả.


PMI


Manufacturing PMI (Apr-2010):

- Global:
- US: 60.4 (+0.8)
- UK: 58.0 (+0.7) - highest since Oct 1994
- EU: 57.6 (+1.0)
- GE: 61.5 (+1.3)
- FR: 58.4 (+1.9)
- IT:
- SP:
- SD: 64.0 (+2.9)
- NW: 51.9 (+2.2)
- SW: 65.9 (+0.4)
- RU:
- JP:
- AU: 59.8 (+9.6)
- CH: 55.7 (+0.6) - CFLP
- CH: 55.4 (-1.6) - HSBC
- IN:



Thursday, May 6, 2010

Greece IV


Bác Anonymous (May 5, 2:45PM) trong entry trước đặt ra câu hỏi liệu có phương án lạc quan nào hơn cho Hi lạp và châu Âu không? Wolfgang Munchau so sánh các đòi hỏi thắt chặt budget của Hi lạp trong thỏa thuận vừa rồi giống như những gì xảy ra với Pháp thời 1930. Tôi thì thấy nó giống với những gì IMF đã yêu cầu các nước ĐNA thực hiện trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á cách đây hơn 10 năm. Điểm khác biệt duy nhất là các nước ĐNA có thể devalue đồng tiền của mình 30-50% và đã vực dậy được nhờ xuất khẩu. Việc Hi lạp không control được monetary policy và exchange rate là điều Simon Johnson và Paul Krugman đã nêu ra trước đây khi so sánh Hi lạp với Argentina và Mexico.

Cả hai nhà kinh tế này đều đề nghị Hi lạp (tạm thời) rút khỏi EMU và phát hành lại đồng dragma của mình. Krugman đã nhắc lại kinh nghiệm của Argentina năm 2001 dùng những qui định rút tiền cực kỳ khó khăn để tránh bank run. Nick Rowe cũng đưa ra khả năng phát hành script, một dạng "nội tệ" đặc biệt để Hi lạp có thể tạm thời tăng liquidity trong nước (tuy nhiên có người đã phản bác phương án này cho rằng California làm được vì bang này chỉ bị liquidity crisis chứ không phải như Hi lạp đã bị insolvency crisis).

Cũng đã có đề nghị ECB cắt khẩn cấp lãi suất xuống 0.5% và sử dụng "nuclear weapon", tiếng lóng ám chỉ việc ECB sẽ mua Greek bonds trực tiếp từ thị trường và giữ đến khi đáo hạn chứ không chỉ nhận collateral thông qua repos như hiện tại. Đây là những gì Fed đã làm trong giai đoạn cuối 2008, đầu 2009 mà bài báo WSJ tôi có link trong entry trước nhắc tới. Nhưng như Krugman đã chỉ ra năm ngoái, monetary policy không có mấy tác dụng khi kinh tế bị rơi vào liquidity trap. Những biện pháp nói trên chỉ nhằm trấn an thị trường tài chính chứ không có real effect. Công cụ cuối cùng vẫn phải là fiscal expansion như các nước đã làm, điều mà Hi lạp phải cam kết ngược lại để được vay 110b.

Tóm lại khả năng Hi lạp tránh được recession/depression là rất khó, người dân Hi lạp sẽ phải gánh chịu hậu quả (cuộc sống khó khăn hơn) trong vài năm tới, có thể vài thập kỷ tới. Vấn đề bây giờ chỉ còn là liệu châu Âu có ngăn được contagion và thoát khỏi phương án bi quan của Charles Wyplosz hay không thôi. Hi lạp hoặc phải restructure debt, hoặc sẽ default, kiểu gì cũng ảnh hưởng lên balance sheets của các ngân hàng châu Âu (khoảng EUR190b). Cho đến giờ này nhiều người cho rằng ECB và chính phủ các nước đủ sức bù được lỗ hổng 190b này, vấn đề là domestic politics, nhất là trong nội bộ Đức, có gây khó khăn gì cho các cuộc bailout sắp tới hay không.

Phương án đẹp nhất là ngày 19/5 tới các nước kịp giải ngân một phần số tiền đã cam kết để Hi lạp trả EUR8.5b bond đến hạn. Sau đó ECB cắt mạnh lãi suất và đồng ý mua vào một lượng lớn Greek bonds trước khi Paris club thỏa thuận được debt restructuring, nghĩa là ECB sẽ chịu một phần lỗ. ECB có thể phải bắt chước Fed cam kết lãi suất thấp trong "extended period". Sau đó các nước châu Âu, quan trọng nhất là Đức, bailout các ngân hàng của mình bằng cách mua một lượng lớn discounted bonds với giá "hữu nghị". Cuối cùng là fiscal expansions ở phần còn lại của châu Âu để giúp Hi lạp tăng export trong nội bộ châu Âu và ra bên ngoài thông qua đồng Euro yếu hơn.

Bản thân Hi lạp ngoài việc thực hiện nghiêm chỉnh cam kết giảm deficit, phải giảm bớt các cuộc biểu tình, đình công và vai trò của unions. Người Hi lạp phải hiểu rằng họ đã sống "beyond their means" trong những năm qua, bây giờ là lúc trả nợ, hoặc làm việc chăm chỉ lên hoặc bớt ăn tiêu đi. Hi lạp có thể phải mở cửa cho migration vào để đối phó với demographic problem trong dài hạn và tăng competitiveness bằng low wage labor trong ngắn hạn. Hi lạp sẽ phải chấp nhận mất đi một phần identity/culture của mình khi dân số bị pha loãng, nhưng biết làm thế nào được, như thế có khi còn tốt hơn phải bán đi vài hòn đảo để trả nợ.

Update (7/5): Hai tác giả Eduardo Borenzstein và Ugo Parnizza có một bài review lại lý thuyết sovereign default. Theo đó, economic cost của default thường không lớn, có chăng là political costs. Tuy nhiên Borenzstein và Parnizza cho biết tất cả các cuộc sovereign default trước đây đều đi kèm currency devaluation. Do đó trường hợp của Hi lạp, nếu không rời EMU, sẽ khó khăn hơn các nước default trước đây nhiều.

Update (19/5): Hi lạp đã nhân được €20b đợt đầu tiên trong bailout package được thông qua 2 tuần trước.


Tuesday, May 4, 2010

Greece III


Châu Âu cuối cùng đã rút một khẩu đại bác ra sau khi giấu bazooka trong túi không dọa được market. Tổng cộng gói cứu trợ 3 năm sẽ là EUR110b, gần gấp 3 số cam kết trước đây và đủ để Hi lạp chi tiêu mà không cần phát hành thêm bonds trong 3 năm tới. Quan trọng không kém, ECB tuyên bố sẽ chấp nhận Greek bonds làm collateral trong repos với các ngân hàng thương mại, bất kể Moody và Fitch có theo chân S&P downgrade Hi lạp thành "junk". Về phía mình Hi lạp tiếp tục phải cam kết thắt lưng buộc bụng trong 3 năm tới để giảm deficit xuống 3% GDP (từ 13.6% trong năm ngoái), một điều vô cùng khó ngay cả trong điều kiện kinh tế booming. (Update 5/5: Hôm qua tôi nhầm mức cam kết của Hi lạp là 4%. Theo một báo cáo của IMF (link qua CR blog), đã có một số nước và chính Hi lạp trước đây giảm được deficit xuống với mức độ như vậy. Tuy nhiên hiện tại Hi lạp gặp khó khăn hơn trước kia vì kinh tế đang suy thoá, dân số già/giảm dần, và không còn khả năng devalue đồng nội tệ để kích thích xuất khẩu.)

Giới econbloggers có vẻ hoàn nghi khả năng Hi lạp sẽ thoát hiểm (không default), điển hình là bài bình luận của Felix Salmon. Một bài bình luận khác (Claus Vistesen) cho rằng châu Âu đang cố dựng hàng rào để quarantine Hi lạp, bởi vì không kể Portugal, Spain sẽ vô cùng nguy cấp nếu bị contagion vì thông tin unemployment rate ở nước này đã vượt 20% vừa bị leak (sớm hơn official release gần 2 tuần). Cho đến cuối tuần trước thị trường bond khá bình tĩnh với Spain, nhưng hai ngày đầu tuần này đồng EUR đang rơi không phanh (mất 1.6% trong 2 ngày). Data releases của Mỹ vẫn đang rất tốt, nhưng dường như châu Âu quá to để Mỹ có thể vực dậy. Thị trường cũng có vẻ nervous về cuộc bầu cử ở Anh trong tuần này. RBA tăng lãi suất thêm 25bps chiều nay, nhưng đã signal khả năng dừng tightening lại.

Update (5/5): Martin Wolf và Paul Krugman đều nghi ngờ khả năng Hi lạp có thể giảm được deficit xuống 3% trong 3 năm tới như đã hứa. Hiện tại nếu bỏ hẳn phần phải trả lãi và gốc cho số 125% GDP nợ, Hi lạp vẫn còn 9-10% structural deficit. Nghĩa là cho dù quốc hội Đức và các nước châu Âu khác thông qua cam kết đóng góp vào gói cứu trợ EUR110b, Hi lạp vẫn khó có khả năng thực hiện được lời hứa. Chưa kể số tiền đó bao gồm cả đóng góp của Italy (14.7b) và Spain (9.8b), hai nước đang bị coi là "high risk".

Mặc dù ECB đã cam kết sẽ nhận Greek bonds bất kể rating, nhưng ai sẽ chịu giữ chúng trên balance sheet khi tình hình đầy rủi ro như vậy? Bởi vậy Martin Wolf nghi ngờ khả năng Hi lạp sẽ thoát hiểm nếu không có debt restructuring, hay nói cách khác là default một phần số nợ hiện tại. Mà khi Hi lạp default thì theo Krugman cái giá của việc rút khỏi EMU sẽ không còn là trở ngại nữa, hệt như Argentina năm 2001. Cách đây mấy tuần Simon Johnson cũng đề cập đến combination này: default + từ bỏ đồng Euro. Nếu điều này xảy ra, hoặc có dấu hiệu xảy ra, kinh tế thế giới nửa sau 2010 sẽ rất đen tối. Hôm nay WSJ đã nhắc nhở ECB phải học tập kinh nghiệm của Fed: aggressive actions needed.

Update (5/5): Lịch trả nợ của Hi lạp trong 3 năm tới. Ngày đầu tiên là 19/5 này với số tiền EUR8.5b.

Update (6/5): Mấy hôm trước Nouriel Roubini đã kêu gọi châu Âu nên xem xét Plan B cho Hi lạp, nghĩa là debt restructuring thay vì bailout bond market. Wolfgang Munchau cũng cho rằng đó là giải pháp không thể tránh khỏi, việc EU/Đức chưa đưa ra vấn đề debt restructuring trong cuộc họp weekend vừa qua chỉ để tránh bị phản đối từ trong nước và nhanh chóng thông qua gói cứu trợ EUR110b. Thực tế Hi lạp đã âm thầm thuê Lazard, một công ty luật chuyên đàm phán debt restructuring, từ tuần trước tư vấn cho mình. Nếu Plan B của Roubini không/chậm thực hiện, cuộc khủng hoảng có thể lan ra các nước PIIGS khác và theo Munchau EU có thể phải chi ra EUR500-1000b để chữa cháy. Bi quan hơn, Charles Wyplosz cho rằng khủng hoảng nợ sẽ lan ra toàn Eurozone, kể cả Đức. Lúc đó nếu EMU còn "sống sót" tất cả government bonds của các nước thành viên sẽ tương đương nhau và EMU sẽ buộc phải phát hành European bonds chung, và khả năng fiscal union sẽ rất lớn. Tuy nhiên xác suất của phương án này thấp hơn nhiều việc EMU tan vỡ. Angela Merkel sẽ đi vào lịch sử như là người đã đẩy European integration lên một tầm cao mới, một United States ở châu Âu. Hoặc bà sẽ là người đặt dấu chấm hết cho giấc mộng này.


Quick notes


1. Vietnam Credit, một công ty tư nhân cung cấp dịch vụ rating của các ngân hàng thương mại đã bị NHNN xoa sổ. Nếu thông tin trong bài của The Economist là đúng, không hiểu NHNN nghĩ gì khi đặt ra yêu cầu giám đốc một rating agency về ngân hàng phải tốt nghiệp Đại học Ngân hàng, một trường đại học không mấy tên tuổi và uy tín ở VN. Điều này cũng đồng nghĩa các rating agencies quốc tế như Moody, Fitch, S&P sẽ không có cửa hoạt động ở VN, trừ khi họ mở subsidiaries và giao cho một người VN tốt nghiệp trường đại học nói trên làm giám đốc, một điều không tưởng. (Update: 14/5: Thông tin trong bài báo của The Economist sai. Một đại diện của Vietnam Credit đã cho tôi biết không hề có chuyện NHNN đóng cửa công ty này, họ vẫn hoạt động bình thường. Về yêu cầu bằng cấp của người lãnh đạo một rating agency, đúng như bạn Anonymous May 5, 3:40AM, bên dưới cho biết, dự thảo của thông tư hướng dẫn chỉ yêu cầu có bằng đại học về tài chính, ngân hàng và công nghệ thông tin chứ không bắt buộc phải học Đại học Ngân hàng. Đây có thể là lỗi dịch thuật của The Economist. Tôi xin rút lại những nhận định bên trên.)

2 Không biết tác giả Nguyễn Hồng Hải trong bài viết này có phải là bạn Nguyễn Hồng Hải comment trong entry này không. Tôi hoàn toàn ủng hộ những đề nghị của bài báo nói trên liên quan đến việc các ngân hàng nhỏ phải nâng vốn điều lệ lên 3000 tỷ đồng. Những đề nghị này sensible hơn nhiều những gì ông Lê Đức Thúy nói trong bài phỏng vấn này. Tôi sẽ quay lại vấn đề này trong một entry tới.

3. Bạn Nguyễn Hồng Hải hỏi quan điểm của tôi về khả năng khủng hoảng nợ quốc gia từ Hi lạp lan rộng ra các châu lục khác. Theo tôi khả năng này không lớn, nếu có thì chỉ châu Mỹ La tinh có rủi ro, châu Á khá an toàn vì tỷ lệ nợ quốc gia không cao (trừ Nhật) và hầu hết các nước đầu tầu của châu Á (TQ, Ấn độ, Hàn quốc) đều có reserve tương đối tốt nên không sợ bị liquidity crisis. Nếu khủng hoảng từ Hi lạp lan ra các nước PIIGS và các nước periphery của châu Âu thì VN sẽ bị ảnh hưởng vì xuất khẩu sang thị trường này suy giảm. TQ cũng sẽ mất một phần thị trường xuất khẩu nên sẽ tiếp tục giữ RMB undervalued đông thời dump các mặt hàng kém chất lượng sang VN và các nước nghèo khác. Tóm lại vì độ mở của kinh tế VN quá lớn nên bất kỳ thay đổi nào trong export demand cũng ảnh hưởng mạnh đến domestic growth.

4. Tôi không biết tác giả Dương Ngọc là ai và cũng không thích style của bài báo này trên VNEconomy, đọc rất giống các "văn kiện đại hội". Tuy nhiên bài báo có một số thống kê về kinh tế VN giai đoạn 1977-1980, không biết nguồn từ đâu và độ chính xác như thế nào, nhưng khá mới với tôi nên lưu link lại đây làm reference.

Theo tác giả này, từ năm 1977 đến 1980, GDP VN tăng trưởng trung bình 0.4%, trong khi dân số tăng 2.31%, nghĩa là thu nhập bình quân đầu người giảm gần 2%/năm trong giai đoạn đó. Riêng 2 năm 79-80 GDP giảm 2% và 1.4%, như vậy 2 năm 77-78 phải có tăng trưởng là 2.5%/năm, khá tương đồng với tốc độ tăng dân số. Do vậy có thể ước lượng mức sống trong 2 năm này (77-78) không bị tụt quá tệ nếu tin theo số liệu nói trên. Tuy nhiên tôi nhớ giai đoạn 77-78 là giai đoạn rất khó khăn, người dân đã bắt đầu phải ăn bo bo. Cá nhân tôi thấy khó tin hai năm này VN có tăng trưởng dương.

Tỷ lệ thất nghiệp 12.7% (khó tin là thời đó có thống kê chính xác như vậy), theo tôi chỉ phản ánh bộ phận lao động không nằm trong các hoạt động kinh tế chính thức (cơ quan nhà nước, xí nghiệp, HTX...). Thời đó chỉ có một bộ phận rất nhỏ những người hàng tháng nhận "thùng hàng từ bển" là có thể liệt kê vào nhóm "thất nghiệp". Còn lại ai cũng phải làm một cái gì đó để kiếm sống.

"Cán cân thanh toán bị mất cân đối nghiêm trọng, khi sản xuất trong nước chỉ đáp ứng được 80-90% nhu cầu sử dụng trong nước...", ngầm định trade deficit khoảng 10-20%. Nên nhớ hai năm vừa rồi (2008-2009) thâm hụt thương mại cũng nằm trong khoản này, năm nay nhiều khả năng sẽ vượt 20%. Tất nhiên hệ thống thống kê thời đó khác xa hiện nay nên con số này có thể không tương đồng, nhưng cũng đáng suy ngẫm.