Sunday, February 5, 2012

Greed



Trong một hội thảo về lịch sử kinh tế của Viện Nghiên cứu Kinh tế Mỹ (American Institute for Economic Research) tại Massachusetts năm 2000 một diễn giả đã làm một cuộc khảo sát nhỏ hỏi các nhà kinh tế tham dự khái niệm kinh tế nào có ý nghĩa quan trọng nhất cho sự phát triển của kinh tế học kể từ "bàn tay vô hình" của Adam Smith. Những đề cử từ hội trường khá đa dạng, từ khái niệm "cận biên" của Walras đến "cân bằng tổng thể" của Arrow, từ "animal spirit" của Keynes đến "spontaneous order" của Hayek, thậm chí cả "giá trị thặng dư" của Marx và "creative destruction" của Schumpeter cũng được nhắc đến. Nhưng kết quả bình chọn khá bất ngờ, "Pareto efficiency" được đa số cho là khái niệm kinh tế quan trọng nhất, nó được đặt theo tên của Vilfredo Pareto - một nhà kinh tế người Ý cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.

Vậy Pareto efficiency là gì và tại sao nó lại quan trọng như vậy? Nói ngắn gọn khái niệm này được dùng để chỉ tình trạng một hệ thống kinh tế không thể cải thiện thêm được nữa nếu không làm một số thành viên bị thiệt hại. Lấy ví dụ khi một doanh nghiệp giảm giá sản phẩm thì người tiêu dùng được lợi nhưng doanh nghiệp đó có thể sẽ có lợi nhuận tăng lên hay giảm đi tùy thuộc vào doanh số có tăng lên sau khi giảm giá hay không. Nếu lợi nhuận vẫn tăng thì mức giá cũ chưa phải là Pareto efficient và tất cả các bên sẽ cùng có lợi khi doanh nghiệp giảm giá. Mức giá đạt đến Pareto efficient nếu giảm thêm nữa thì lợi nhuận bắt đầu giảm, nghĩa là người mua được lợi nhưng người bán sẽ bị thiệt. Một đặc điểm quan trọng của khái niệm này là nó tách biệt tính hiệu quả về mặt kinh tế với tính công bằng trong việc phân chia sản phẩm và của cải trong xã hội cho mọi thành viên. Một hệ thống kinh tế có thể rất hiệu quả nhưng không nhất thiết công bằng.

Đây là một bước ngoạt trong kinh tế học vì kể từ khi khái niệm Pareto efficiency ra đời ngành khoa học này đã chính thức tách biệt chính trị với kinh tế, trước đó người ta vẫn biết nó với tên gọi political economy. Kể từ đây các nhà kinh tế phủi tay nói nhiệm vụ của chúng tôi chỉ là làm sao cho nền kinh tế phát triển tốt còn những vấn đề như chênh lệch thu nhập hay an sinh xã hội là việc của các nhà chính trị. Cũng kể từ đây giới kinh tế học tin rằng công bằng xã hội, hiểu theo nghĩa công bằng về phân chia sản phẩm, phải được đánh đổi bằng hiệu quả kinh tế - muốn một nền kinh tế công bằng hơn phải giảm hiệu quả kinh tế xuống. Một nền kinh tế thị trường sẽ đạt Pareto efficiency nếu từng cá thể chỉ cần biết đến seft interest của mình, nghĩa là người tiêu dùng cứ "tham" mua rẻ, nhà sản xuất cứ "tham" bán đắt miền là "bàn tay vô hình" phát huy tác dụng. Tính tham lam trong kinh tế là biểu hiện của rationality, bản chất tự nhiên của con người và không có gì đáng trách. Bởi vậy nếu một bộ phận xã hội nào đó bị thua thiệt quá nhiều trong hệ thống kinh tế này, giải pháp thích hợp nhất không phải là những người khác phải bớt tham mà là nhà nước với bàn tay hữu hình của mình can thiệp vào thị trường để phân chia lại của cải trong xã hội qua một hệ thống thuế có tính progressive.

Nhưng thực tế không đơn giản như các mô hình kinh tế. Ngay từ những năm 1930, nghĩa là chỉ vài chục năm sau khi khái niệm Pareto efficiency ra đời, John Maynard Keynes đã nhận ra rằng bàn tay vô hình có thể có lúc bất lực: seft interest của từng cá nhân có thể sẽ không đồng nhất với interest của toàn xã hội. Bởi vậy vai trò của nhà nước không chỉ đơn thuần là phân phối lại của cải cho công bằng hơn mà còn phải thực thi những chính sách kinh tế và chức năng quản lý, giám sát để giảm bớt sự lệch pha giữa seft interest và social interest. Nói cách khác Keynes đã hoài nghi quan điểm cho rằng lòng tham của mỗi cá nhân không có hại cho toàn xã hội, dù xét trên khía cạnh Pareto efficiency. Một loạt những vấn đề kinh tế được nghiên cứu trong thế kỷ 20 (externality, information asymmetry, public goods, imperfect competition) cũng có dẫn đến kết luận giống Keynes: can thiệp của nhà nước là cần thiết bên cạnh việc phân bổ lại của cải giữa các cá nhân trong xã hội vì thị trường có những lúc thất bại. Ngoài việc trực tiếp tác động vào nền kinh tế thông qua chính sách tài khóa và tiền tệ, nhà nước cần phải có một hệ thống quản lý và điều tiết hành vi của người tiêu dùng và doanh nghiệp, cách nói khác của việc phải quản lý lòng tham, để đạt Pareto efficiency cho toàn xã hội.

Sang đầu thế kỷ 21, cuộc khủng hoảng vay địa ốc dưới chuẩn 2007-2009 một lần nữa lại khơi dậy lập luận của Keynes, nhưng lần này trực diện vào lòng tham của giới tài chính. Trong những cuộc biểu tình của phong trào Chiếm phố Wall có một khẩu hiệu khá phổ biến là "Chấm dứt cứu trợ các ngân hàng". Những người biểu tình cho rằng giới đầu cơ tham lam là một phần nguyên nhân của cuộc khủng hoảng dẫn đến tình trạng thất nghiệp cao mà họ là những nạn nhân trực tiếp trong khi chính những kẻ tội đồ này lại được chính phủ Mỹ trợ giúp, gián tiếp chuyển ngược tiền thuế từ người nghèo vào túi người giầu. Lòng tham của giới phố Wall là nguyên nhân dẫn đến việc cho vay tràn lan rồi dấu nhẹm rủi ro bằng hàng loạt những công cụ tài chính phức tạp. Cũng chính vì lòng tham mà họ đã vận động QH Mỹ bãi bỏ nhiều qui định và quản lý hoạt động tài chính để gia tăng lợi nhuận và tất nhiên là lương và thưởng cho chính họ. Nhờ những nới lỏng quản lý trong thập kỷ 1980-1990 mà phố Wall đã trở nên quá lớn đến mức họ có thể bắt cả nền kinh tế làm con tin khi khủng hoảng nổ ra. Một cuộc khủng hoảng và suy thoái nặng nhất kể từ năm 1933 là cái giá nước Mỹ phải trả để có thể đưa ra một bộ luật nhằm siết lại lòng tham của giới bankers (luật Dodd-Frank 2010).

Bên cạnh những cuộc biểu tình Chiếm phố Wall đã trở nên quen thuộc vào cuối năm 2011, một cuộc biểu tình khác rất kỳ lạ đã diễn ra ở thủ đô Washington tháng 11/2011. Cùng với "lãnh tụ" Warren Buffett, hơn một trăm triệu phú Mỹ đã đưa ra yêu cầu chính phủ nước này phải đánh thuế thêm vào thu nhập của họ và những người giàu có khác. Chẳng phải họ không tham lam muốn đóng thêm tiền cho chính phủ mà vì họ biết hệ thống thuế trên thực tế có rất nhiều lỗ hổng, Warren Buffett cho biết ông đóng thuế ít hơn nhân viên của mình nếu tính theo tỷ lệ thu nhập. Đòi hỏi của nhóm triệu phú này là xóa bỏ những lỗ hổng trong luật thuế để ngăn ngừa bớt lòng tham của những người đã vận động hành lang nhằm lái luật lệ có lợi cho mình. Đây là vấn nạn "regulatory capture" mà George Stigler đã chỉ ra trong lý thuyết public choice của mình từ giữa thế kỷ 20. Trong một hệ thống chính trị không hoàn hảo, lòng tham của những nhóm lợi ích sẽ dẫn đến tình trạng quản lý nhà nước bị lợi dụng cho mục đích cá nhân mà toàn xã hội sẽ phải trả giá. Vấn đề là không phải thời nào, xã hội nào cũng có những người như Warren Buffett và không phải lúc nào họ cũng thắng những kẻ tham lam luôn muốn lái luật lệ theo hướng có lợi cho mình.

Năm 1992 nhà chính trị học Francis Fukuyama trở nên nổi tiếng khi ông cho rằng lịch sử tiến hóa các hình thái xã hội của nhân loại đã đến đích sau khi bức tường Berlin sụp đổ. Hệ thống kinh tế thị trường tự do với một nhà nước dân chủ là điểm đến cuối cùng của lịch sử loài người. Nhưng chính học giả này trong những năm gần đây đã nhận ra giới hạn của mô hình kinh tế thị trường tự do tuyệt đối (laissez-faire) khi lòng tham của từng cá nhân được phép phát huy không hạn định. Chưa một hệ thống quyền lực, kinh tế, tôn giáo nào có giải pháp triệt để kiểm soát bản tính tham lam của con người. Tuy nhiên với những gì loài người đã trải qua trong mấy nghìn năm lịch sử, một nền kinh tế thị trường với một số can thiệp nhất định của nhà nước vẫn là thỏa hiệp hiện thực nhất. Không như Fukuyama dự báo, xã hội loài người vẫn không ngừng tiến hóa để tìm đến một điểm Pareto efficiency hợp lý. Trên con đường này chắc chắn sẽ cần có không ít những cuộc biểu tình như phong trào Chiếm phố Wall hiện tại, những cuộc cách mạng như Mùa xuân Ả rập vừa qua, và có thể cả những cuộc khủng hoảng, suy thoái như chúng ta đã chứng kiến.


[Note: Một version của bài viết này đã được đăng trên SGTT.]


8 comments:

  1. Anh Đinh Tuấn Minh có một bài ủng hộ vai trò đầu cơ trong nền kinh tế.

    http://thitruongtudo.blogspot.com/2012/01/vai-tro-cua-au-co-trong-nen-kinh-te.html

    Quan điểm về đầu cơ của hai anh trái ngược nhau thật. :-)

    ReplyDelete
  2. Anh ạ, em nghĩ là những người học kinh tế nên đọc lại quyển sách đầu tiên (nhưng giờ ít phổ biến) của Adam Smith là quyển "Lý thuyết đạo đức" (Theory of moral sentiment). Trong "Lý thuyết đạo đức", Adam Smith nói rõ là quan tâm bản thân (self interest), hay yêu bản thân (self love) nghĩa là ngoài việc quan tâm đến lợi ích của mình, 1 cá nhân cũng quan tâm đến người khác theo kiểu thấy người ta vui thì mình vui lây. Điều này hoàn toàn khác với lòng tham (greed), và ích kỷ (selfishness) khi 1 cá nhân chỉ biết đến lợi ích của mình.

    "Quốc phú luận" (Wealth of nations) được Adam Smith viết sau "Lý thuyết đạo đức". Khái niệm quan tâm bản thân (self interest) không được diễn giải rõ vì nó đã nằm trong quyển sách đầu tiên. Tuy nhiên nếu bỏ qua "Lý thuyết đạo đức" mà chỉ chăm chăm đọc "Quốc phú luận" (hoặc tệ hơn là không thèm đọc mà chỉ nghe người khác diễn giải lại) thì rất dễ nhầm quan tâm bản thân (self interest) với lòng tham (greed). Hậu sinh của Smith, theo em thấy, hình như phần lớn đều phạm vào điều này.

    Vì thế nếu hiểu quan tâm bản thân (self interest) theo nghĩa ban đầu của Adam Smith thì sẽ thấy là lòng tham không có chỗ đứng trong lý thuyết của ông. Thậm chí ngay trong "Quốc phú luận", Smith cũng có câu cảnh báo về lòng tham:

    "People of the same trade seldom meet together, even for merriment and diversion, but the conversation ends in a conspiracy against the public."

    Tạm dịch: "Những người buôn cùng 1 món hàng hiếm khi gặp nhau, dù thân mật hay giả tạo, nhưng cuộc thảo luận của họ thể nào cũng gây hại cho xã hội."

    Vài dòng suy nghĩ, mong anh không phiền. :D

    ReplyDelete
    Replies
    1. Cám ơn bạn đã góp ý, tất nhiên tôi không bao giờ phiền lòng vì những phản biện tích cực.

      Tôi vẫn biết self interest khác với selfishness và greed. Nhưng quả thật ranh giới giữa những hành vi này rất khó xác định ngay cả về mặt đạo đức chứ đừng nói gì về mặt luật pháp.

      Hệ thống capitalism, cả về mặt lý thuyết lẫn thực tiễn, được xây dựng trên self interest, nhưng nhiều người nhân danh "self interest" để biện hộ và thậm chí bảo vệ cho selfishness và greed. Đó là điều cần phải thay đổi.

      Delete
  3. khi còn học năm 3..học về hiệu ứng Pareto này, quả thật rất hay nhưng quả thực rất khó. Để rồi khi học xong, cái rút ra được một kết luận là 1 câu mà sau này khi ra trường đi phỏng vấn, ai hỏi "sinh viên Kinh tế học thì học những gì", thì đều có thể trả lời dõng dạc:nếu sv finance or trading học để có thể làm giàu cho chính mình, thì em học kinh tế học là học cách để mà tất cả cùng giàu"...

    ReplyDelete
  4. Nếu anh Giang nhìn kinh tế trong một tổng thể thì những cuộc đại khủng hoảng như năm 1930 hay 2008 chỉ là sự điều chỉnh tất yếu của hệ thống kinh tế cho những bong bóng đã phình to trước đó. Nếu xét trong một thời điểm thì tất cả mọi người đều thua khi giá các loại tài sản đều giảm, nhưng trước thời điểm thua đó là thời điểm thắng của tất cả mọi người. Cũng giống như từ năm 2009 đến nay, thị trường chứng khoán, thị trường địa ốc Mỹ liên tục tăng, tất cả mọi người đều thắng. Nếu xét theo quan điểm thắng - thua thì ai sẽ là người thua?

    Là một nhà đầu tư theo chu kỳ, em không nghĩ rằng khi thị trường chứng khoán sụp đổ là thảm hoạ mà đó là những cơ hội để những nhà đầu tư như Warren Buffett và những nhà đầu tư giá trị mua cổ phiếu. Nếu thế thì việc gì nhà nước phải can thiệp vào nền kinh tế bằng cách sử dụng tiền của người này để cứu người khác, dưới góc nhìn tổng thể, sự phá sản chỉ là một hiện tượng, không phải là điều tồi tệ. Nó chỉ tồi tệ cho một cá nhân hay một nhóm người nào đó riêng lẻ chứ không tồi tệ cho cả nền kinh tế.

    Em cũng muốn nói thêm về quan điểm ủng hộ FED bơm tiền vào nền kinh tế mà nhiều nhà kinh tế đang ủng hộ. Trong một giai đoạn ngắn hạn từ 2009 đến nay, thị trường chứng khoán thế giới tăng điểm nhờ chính sách đó và mọi người đánh giá rằng chính sách đó thành công. Nhưng điều chắc chắn là FED không thể tiếp tục duy trì mãi chính sách kích thích kinh tế bằng cách bơm tiền, khi đó thị trường chứng khoán sụp đổ thì do nguyên nhân nào? Một hiện tượng tương tự là việc vay nợ của các chính phủ, vay nợ không phải là không có giới hạn, nếu nợ tiếp tục tăng thì đến một thời điểm nào đó chính phủ sẽ vỡ nợ hoặc buộc phải in tiền để trả nợ và điều đó sẽ gây ra lạm phát.

    Em hiểu rằng các nhà kinh tế dù sao cũng là con người, họ vẫn chỉ có thể nhìn thấy những gì xảy ra trong ngắn hạn 5-10 năm tới. Nhưng một hệ thống kinh tế tồn tại dài hơn tầm nhìn của một nhà kinh tế rất nhiều.

    John Maynard Keynes: "Tất cả chúng ta rồi sẽ chết". Điều đó đúng, nhưng "con cháu chúng ta vẫn sẽ được sinh ra".

    ReplyDelete
    Replies
    1. Em trích dẫn Keynes out of context nên câu sau của em sai, rất giống Neill Ferguson một lần nói Keynes không quan tâm đến longrun vì ông ấy gay nên không có con. Sau đó Ferguson đã phải xin lỗi publicly.

      Delete
  5. Khi Keynes đưa ra lý thuyết kinh tế của mình, cho rằng market không phải lúc nào cũng hoạt động tốt và cần phải có sự can thiệp của nhà nước (fiscal/monetary policy), nhiều nhà kinh tế theo trường phái laissez-faire phản bác lại. Họ lập luận rằng về lâu dài các chính sách kinh tế của nhà nước không có ảnh hưởng gì vào tăng trưởng và việc làm (đường long-run aggregate supply thẳng đứng). Việc Keynes kêu gọi can thiệp của nhà nước vào thị trường có xu hướng socialism nên không thể chấp nhận trong một nền kinh tế tư bản.

    Keynes phản bác lại bằng câu nói "In the long run we are all dead" với ngụ ý các anh có thể đúng trong dài hạn, nhưng tôi không quan tâm vì nó quá xa vời. Trong ngắn hạn chính phủ phải làm cái gì đó để giảm bớt ảnh hưởng xấu của chu kỳ kinh tế (khủng hoảng/suy thoái) vào đời sống người dân. [Keynes luôn nhấn mạnh vào ngắn hạn, một câu nói nổi tiếng khác của ông mà tôi quote trên header của blog này cũng cho thấy như vậy: "The market can stay irrational longer than you can stay solvent."]

    Câu "đối" lại của Easterly có 2 ý sau khi ông đọc quyển "This time is different" của Reinhart & Rogoff (xem link bên trên). Thứ nhất Easterly cho rằng chúng ta không thể thiển cận chỉ nhìn vào ngắn hạn mà phải nghĩ đến tương lai lâu dài của nhân loại. Đúng là về lâu dài "we are all dead" nhưng cái chúng ta mong muôn là "we are all better off". Không thể vì "we are all dead" trong tương lai mà chúng ta có thể muốn làm gì thì làm trong ngắn hạn (vd tăng public debt quá mức).

    Thứ hai, sâu xa hơn, Easterly ngụ ý sở dĩ thế giới (Mỹ và các nước phát triển) được phồn vinh như ngày hôm nay là vì các ancestors của họ đã không thiển cận chỉ nghĩ đến short run mà đã kiên quyết đi theo con đường capitalism trong quá khứ. Giảm thiểu can thiệp của nhà nước vào thị trường (tuân thủ nguyên tắc laissez-faire), trong ngắn hạn có thể sẽ gây ra ảnh hưởng xấu như Keynes cảnh báo, nhưng trong dài hạn xã hội sẽ luôn luôn better off.

    ReplyDelete
  6. Hàm ý của em là nếu chính phủ can thiệp để giải quyết các vấn đề trong ngắn hạn thì trong dài hạn chính sự can thiệp đó sẽ là nguyên nhân làm nảy sinh một vấn đề khác buộc phải can thiệp. Cứ như thế, vòng luẩn quẩn tiếp tục tái diễn hết lần này sang lần khác. Nếu việc can thiệp không thể ngăn chặn được chu kỳ kinh tế thì chính phủ nên tìm một giải pháp khác tốt hơn.

    ReplyDelete