Friday, March 6, 2009

Economics II


Tôi định chỉ update vào entry Economics, nhưng rồi thấy cái này quan trọng nên phải viết thành một entry riêng.

Hồi cuối tháng 1 Krugman có một bài phê phán quan điểm "Treasury view" của Eugene Fama, đồng thời gọi giai đoạn phát triển macroeconomics trong những năm 70 là "Dark Age". Ý của Krugman là trong giai đoạn này các nhà kinh tế rời bỏ học thuyết của Keynes quay sang phát triển RBC nên đã đánh mất một thành tựu quan trọng về demand side trong macroeconomics mà Keynes đã đưa ra gần 40 năm trước đó, tương tự như những thành tựu văn minh thời Hi lạp - La mã đã bị mất trong giai đoạn Dark Age. Mặc dù không chỉ trích trực tiếp Milton Friedman, Krugman dường như nhắm vào Chicago school với những cái tên được nhắc đến nhiều như Lucas, Fama, Cochrane, Prescott. Cũng theo Krugman, những econ departments theo trường phái neo-classical đã cố tình xóa bỏ Keynesian theory khỏi chương trình học (tôi cũng đã từng thắc mắc khi thấy một quyểt macro textbook của Thomas Sargent không đề cập đến IS-LM).

Ngay cả nếu so sánh Dark Age của Krugman có hơi quá lời, những phê phán này có lẽ còn nhẹ nhàng hơn những gì mấy ngày gần đây giới econblogger đổ xô vào chê bai monetary economics (GS Trần Hữu Dũng cùng cho rằng monetary economics "không có gì đáng dạy"). Đầu tiên là một bài viết về Dark Age trong monetary economics của Nick Rowe, kéo theo Krugman Econlog vào cuộc. Cáo buộc quan trọng nhất của Rowe là nhiều mô hình dùng mang tiếng là mô hình tiền tệ nhưng không có money một cách đúng nghĩa. M được đưa vào dưới dạng money demand function hầu như không liên quan gì với real side, ngoại trừ cash-in-advance constraint hoặc liquidity preference trong hàm utility, hoàn toàn ad-hoc.

Tệ hại hơn, các mô hình tiền tệ không quan tâm gì đến các khái niệm M0, M1, M2 và khả năng velocity/multiplier có thể bị endogenous, điều mà bất kỳ ai cũng có thể thấy được chỉ cần nhìn lướt qua số liệu thống kê. Vai trò của hệ thống ngân hàng hoàn toàn không xuất hiện còn ngân hàng trung ương chỉ được biểu diễn bằng một reaction function dạng như Taylor rule hoặc inflation targeting. Tất nhiên vâi trò lender-of-last-resort cũng như liquidity provider của central bank hoàn toàn vắng bóng. Đây là lý do tại sao monetary economist hoàn toàn "im hơi lặng tiếng" trong cuộc khủng hoảng hiện tại. Họ không có công cụ và lý thuyết để giải thích những gì đang xảy ra, chứ đừng nói gì đến đưa ra giải pháp. Monetary economists cũng "bất lực" khi lãi suất ngắn hạn xuống gần zero và central bank chuyển sang quantitative easing, điều mà Keynes cách đây 70 năm gọi là "liquidity trap".

Tôi rất thấm thía những phê phán của Nick Rowe vì những mô hình mà tôi sử dụng đúng là có những khiếm khuyết này. Những mô hình này thực chất là mô hình "cashless", nominal side thêm vào chỉ là "hương hoa" chứ không có thực chất. Nếu bỏ đi các ad-hoc assumptions về nominal side thì nominal dichotomy xảy ra đúng như một mô hình chỉ có real side, nghĩa là tăng gấp đôi M sẽ làm mặt bằng giá tăng gấp đôi và real side hoàn toàn không bị ảnh hưởng. Khi còn làm luận án, tôi đã có lần complain những bức xúc này với giáo sư hướng dẫn (ông hiện đang là thành viên của RBA Board, tương đương với FOMC của Fed) và ông trả lời rằng đó là "second best solution" cho giới làm mô hình macro, còn central bankers phải sử dụng time series cho short-term forecasts (tất nhiên vẫn phải kết hợp với DSGE). Tóm lại trong lĩnh vực monetary economics có một khoảng cách khá lớn giữa giới academic và policy makers/market participants.

Bài phê phán monetary economics quan trọng thứ hai là bài của Willem Buiter trên FT. Buiter chỉ ra 3 lỗ hổng lớn trong lĩnh vực nghiên cứu về monetary economics. Thứ nhất là giả thiết complete market, nghĩa là trong bất kỳ trường hợp nào người ta cũng có thể mua bán được các tài sản của mình vơi một mức giá cạnh tranh phản ánh đúng marginal benefit/marginal cost. Điều này rõ ràng không phù hợp với hoàn cảnh illiquid market của rất nhiều sản phẩm tài chính và cả nhiều loại physical goods khác. Tình trạng illiquidity của một loại hàng hóa không chỉ đơn thuần vì central bank không cung cấp đủ liquidity ra thị trường. Một ví dụ rất rõ là mặc dù Fed đã bơm liquidity ra trong giai đoạn khủng hoảng nhưng các ngân hàng giữ gần như toàn bộ lại dưới dạng reserves nên liquidity trên thị trường vẫn thiếu, dẫn đến những vụ sụp đổ của các mắt xích yếu nhất như Bear hay Lehman.

Giả thuyết complete market trong thế giới của Arrow-Debreu cho rằng bất kỳ rủi ro nào cũng có thể được định giá và tất cả các kịch bản (state) của tương lai đều có thể xác định được. Do đó thị trường luôn tồn tại cho bất kỳ tài sản nào. Cuộc khủng hoảng này cho thấy có những rủi ro (risk) không thể định giá được vì ngoài risk còn có uncertainty. Trên thị trường khái niệm risk và uncertainty được phân biệt rạch ròi nhưng trong kinh tế học nói chung (chứ không riêng monetary economics) hai khái niệm này chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng. Các nhà kinh tế dùng probability distribution để mô tả risk cho một outcome nào đó, nhưng với uncertainty (đồng nghĩa với distribution không xác định được) thì lý thuyết kinh tế chưa có cách nào biểu diễn.

Phê phán thứ hai của Buiter là giả thiết efficient market hypothesis (EMH). Cùng với complete market, rational expectation, EMH sẽ dẫn đến một hệ quả là trong dài hạn tất cả các thị trường đều tồn tại một steady state, trong đó "invisible hands" sẽ làm nhiệm vụ một central auctioneer đảm bảo cho tất cả các loại tài sản đều có giá trị equilibrium. Tạm bỏ qua chỉ trích của Buiter về tính chất centralized vs decentralized của các mô hình kinh tế, vấn đề steady state của các mô hình dynamic đòi hỏi phải có thêm một điều kiện nữa gọi là tranversality condition. Đối với các mô hình tài chính tiền tệ điều kiện này được nhiều người gọi là non-Ponzi scheem condition. Điều đáng nói là transversality condition chỉ là một điều kiện toán học để một bài toán dynamic optimization có lới giải chứ không có gì đảm bảo market participants tuân thủ điều kiện này. Ví dụ dễ thấy nhất là vụ Madoff, nhưng toàn bộ cuộc khủng hoảng này cho thấy nhiều financial instituitions trên thực tế đã kinh doanh theo dạng Ponzi game (ví dụ cho rằng giá nhà đất không bao giờ giảm). Hậu quả là thay vì thị trường có xu hướng tiến về steady state thì nó sẽ crash để chuyển từ một unstable path này sang một unstable path khác.

Phê phán cuối cùng của Buiter có tích chất kỹ thuật. Đó là việc các nhà kinh tế khi xây dựng mô hình và tính toán dựa trên các mô hình của mình đã phải dùng một kỹ thuật là linearization để đơn giản hóa mô hình của mình. Do vậy tất cả các đặc tính quan trọng của thị trường như thresholds, critical mass, tipping points đều bị loại bỏ. Chưa kể sau khi được linearized, các mô hình chỉ còn khả năng nghiên cứu những cú sốc rất nhỏ (quanh steady state), do đó những vấn đề của khủng hoảng (big shocks) nằm ngoài khả năng nghiên cứu và độ chính xác của các mô hình kinh tế.

Câu kết luận của Willem Buiter "knowing that you know nothing is the beginning of wisdom" vừa là một thực tế đáng buồn của kinh tế học nói chung và monetary economics nói riêng. Nó không chỉ là vấn đề Dark Age như Krugman chỉ ra mà chính là vấn đề sub-optimum equilibrium của cả ngành khoa học kinh tế mà Colander lo ngại.


Update (09/03): Nick Rowe vừa đưa ra một mô hình có M và endogenous velocity, tiếc là vẫn chưa có central bank và commercial banks.


7 comments:

  1. macroeconomics: kinh tế học vĩ mô

    demand side: phía cầu (các nhà kinh tế học theo trường phái Keynes thường được gọi là trọng cầu do họ chú ý đến các vấn đề về phía cầu như GDP...)

    Dark Age: để chỉ thời kỳ Trung cổ, thường được gọi là Đêm trường Trung cổ, khoảng thời gian sau nền văn minh Hy Lạp - La Mã và kết thúc bằng thời kỳ Phục Hưng của nền văn minh châu Âu.

    Chicago school: trường phái Chicago, nơi hội tụ những nhà kinh tế có tư tưởng thị trường tự do như Milton Friedman, Lucas, Fama, Cochrane, Prescott.

    neo-classical: kinh tế học tân cổ điển là một trường phái kinh tế học có trọng tâm nghiên cứu là cơ chế quyết định giá cả, sản lượng, phân phối thu nhập thông qua nguyên lý cung - cầu dựa trên các giả định về hành vi tối đa hóa thỏa dụng của người tiêu dùng trong điều kiện một ngân sách hạn chế hay tối đa hóa lợi nhuận của nhà sản xuất trong điều kiện chi phí hạn chế.

    Keynesian theory: lý thuyết của Keynes

    monetary economics: kinh tế học trọng tiền

    money demand function: hàm cầu tiền

    cash-in-advance constraint: ràng buộc về tiền mặt (phải có trước khi giao dịch)?

    liquidity preference: sự ưu chuộng (ham thích) tiền mặt (do tiền mặt có tính thanh khoản - tính lỏng cao nhất trong tất cả các loại tài sản - asset)

    hàm utility: hàm thỏa dụng

    ad-hoc: Không dự tính trước, không theo thể thức, bột phát

    velocity/multiplier: tốc độ lưu thông/số nhân

    endogenous: biến nội sinh (?)

    reaction function: hàm phản tác dụng (phản ứng)

    inflation targeting: lạm phát mục tiêu

    lender-of-last-resort: người cho vay cuối cùng (vai trò mà các ngân hàng trung ương đang nắm giữ)

    liquidity provider: người đảm đảm tính thanh khoản

    monetary economist: các nhà kinh tế trọng tiền

    central bank: ngân hàng trung ương

    quantitative easing: nới lỏng tiền tệ là thuật ngữ chỉ chính sách tiền tệ nới lỏng mà ngân hàng trung ương Nhật (BOJ) đã từng sử dụng trong giai đoạn suy thoái kinh tế từ những năm trong thập kỷ 1990 đến năm 2006. Theo thuật ngữ này, ngân hàng trung ương sẽ áp dụng một lúc hai công cụ là hạ lãi suất triệt để và bơm tiền trực tiếp vào ngân hàng để tạo ra cung tín dụng tức thời.

    ReplyDelete
    Replies
    1. Thank, anh linh giải thích một số thuật ngữ.

      Delete
  2. Hi a Giang,
    Em rất thích đọc bài của anh viết, từ hồi còn ở Minh Biện, mặc dù em là dân ngoại đạo, có nhiều chỗ ko hiểu được hết. Thanks so much!
    Nhân nói về chuyện update, thường em scan qua toàn bộ entry xem có update ko? nhưng khi số lượng entry nhiều thì khá là mất thời gian. ko biết có cách nào hay hơn ko nhỉ? Em có subcribe RSS rồi nhưng chỉ update khi có new entry thôi.

    Tu

    ReplyDelete
  3. @Tu: Mình cũng không biết cách nào báo cho mọi người về các updates trong các entry cũ. Đây là cái dở của blogspot. Nếu nhu Tu và các bạn biết có gadget nào cho phép mình highlight được những entry mà mình vừa update thì báo cho mình biết. Thanks.

    ReplyDelete
  4. Anh chac dang o Aus, neu anh o Sydney thi co the email cell phone number cua anh cho em theo dia chi windysaigon@gmail.com de tien viec lien lac va trao doi. Em la sinh vien nam cuoi cua Macquarie.

    ReplyDelete
  5. E đang làm đề tài về chính sách thụ động dựa trên tính động của giá và sản lượng của trường phái tân cổ điển. Bác chỉ cho e xin tư liệu về trường phái này với.
    Thanks

    ReplyDelete
  6. @Anonymous (Aug 12): Bạn có thể vào website của New School để tham khảo về các trường phái kinh tế, trong đó có trường phái tân cổ điển (neo-classical).

    ReplyDelete